Trầm tích thơ – Trầm tích nỗi đau

Trường ca Trầm tích của Hoàng Trần Cương được viết và tu chỉnh trong gần chục năm. Có cảm giác, nhiều câu thơ, nhiều đoạn thơ tác giả đã nhẩm thuộc rồi nhẩm sửa rồi lại thuộc nhiều lần, đến mức nhập tâm, những đoạn thơ như chắt ra từ mồ hôi nước mắt, từ những từng trải, đau đớn không nguôi trong lòng người viết, mỗi khi nghĩ về quê hương mình, cha mẹ mình, bà con mình, nhân dân mình. Những câu thơ thật đến buốt óc:
Có người lính mãn thời trai trẻ
Người yêu
Giờ đã lấy chồng
Con búp bê mở mắt tròn xoe
Suốt ngày khóc trên tay con của người yêu cũ

Những ai từng đi lính, ngày giải phóng trở về quê với con búp bê và chiếc khung xe đạp, sẽ thấm thía bao nhiêu khi đọc đoạn thơ này. Năm 1975, tôi ra Bắc an dưỡng ở Hải Dương, nằm cùng phòng với tôi có anh bạn, vợ cũ đã lấy chồng vì nghe tin anh chết ở chiến trường, giờ đến thăm anh. Người lính ấy nằm trùm chăn, không dậy nổi để tiếp vợ cũ của mình. Anh âm thầm khóc trong  chăn. Vợ cũ của anh cũng khóc. Và tôi, người chứng kiến, vội phủ chăn kín đầu, không dám nhìn cảnh đau lòng ấy. Hoàng Trần Cương từng là lính trận, anh đã trải đủ để biết chiến tranh là thế nào, để biết những ngày hoà bình mình còn sống đây là lời lãi ra sao, nên thơ anh, những đoạn viết về người lính bao giờ cũng là dứt ruột mà viết. Bắt đầu từ một tình yêu quặn thắt, quyết liệt mà ra thơ. Thơ ấy thật và nặng như những gì anh đã phải trả, trả từ tuổi thơ tới tuổi trưởng thành. Quê Nghệ của Cương thế này:
Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh
Đất vắt kiệt  mình nước mọng múi chanh
Dằng dặc dải làng quê thưa thắt
Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát
Tảng cháy cạy đi rồi
Còn hằn vết móng tay
Cày lên
Sưng cả đáy nồi
Nói như thế là kiệt cùng, chứ không phải nói quá lên đâu. Cái nghèo khó của vùng quê Nghệ thật dữ dội, và tính cách con người Nghệ cũng dữ dội quyết liệt đến tận cùng, cực đoan đến độ tưởng như gàn dở. Nhưng trên cả, đó là miền quê của ý chí, nghị lực và khí phách. Hoàng Trần Cương đã trả nghĩa cho quê hương mình những câu thơ thật và đẹp.  Anh là đứa con có hiếu. Nhưng hơn thế, anh là một với đất quê anh:
Hình như sông cũng nằm mơ
Nửa đêm sóng cười trắng xoá
Hình như bến bờ đau đẻ
Khoắt khuya đất vật ùm ùm
Nghe được tiếng sông và tiếng đất như thế, là nghe được từ ruột gan của quê hương miền Trung mình. Có lẽ, đây là một trong số ít trường ca dựng được hình ảnh của miền Trung nước Việt vừa khó nghèo, nhếch nhác, vừa oai dũng đứng lên đội đá vá trời, lừng lững thách thức với mọi kẻ thù, mọi tai ương, tồn tại trong những điều kiện tưởng như không thể tồn tại.
Đã lâu, tôi mới được đọc những dòng thơ vừa hào sảng vừa cay đắng như thế khi viết về quê hương. Tuốt xác ra mà thơ, quê hương trong Hoàng Trần Cương không đèm đẹp kiểu “Quê hương là chùm khế ngọt”, nó vật vã, tướp táp, vặn xoắn, thắt ngực, buốt lòng – “Mặt người còn nhàu sương gió”. Và:
Ngửa mặt va ngày
Mở mắt vấp đêm
Tôi không cực đoan đến nỗi cho rằng mọi bài thơ viết về quê hương đều phải viết như thế, nhưng làm sao khác được, khi quê hương đất nước mình là vậy, đâu có ngọt ngào, láng o, bóng mượt như tóc được gội bằng các loại dầu gội đầu bay giờ? Trường ca Trầm tích, mới đọc có cảm giác hơi loãng ở cấu trúc, nhưng đọc kỹ, thấy cách cấu trúc theo kiểu liên khúc (suite) như thế là hợp lý. Và có lẽ, chương Trầm tích nhất trong liên khúc này là chương Đá đỏ. Đây là máu loang trên máu, là đỏ trùm lên đỏ, là những gì ngột ngạt nhất được đào bới, những vỉa tầng của nghĩ suy vón cục, của ký ức đầy sẹo:
Cạnh đá sắc còn hằn nguyên vết chém
Nghèo khó cắn xé nhau
Con đi qua những địa tầng mưng máu
Gặp những hình nhân rỗng tim
Gặp những trung thần chết đứng
Gặp những vương triều xô nghiêng chính sử
Bây giờ hoai rữa hư không

Khi đến máu người trầm tích thành đá đỏ mà còn hư mất, nữa là những vương triều xô nghiêng chính sử.
Có một mảnh đời con trong đống rác
Xin mẹ cho con bới tìm
Khi bới tìm không mặc cảm như thế, chính là khi Hoàng Trần Cương gặp Thơ. Thơ trong đống rác ấy, chứ đâu!
Đọc thơ Hoàng Trần Cương là chấp nhận sự không yên ổn, là đồng thuận vật vã cùng tác giả. Không phải từ cách “vặn tay” từ ngữ hay cố tình tạo ra những cú thở dốc những nhịp hổn hển, thơ Cương thả ra khá tự nhiên, nhưng người đọc lập tức bị cuốn vào từ trường thơ của anh. Bởi đây không phải là sự vò xé chữ nghĩa, đây là những vật vã, những dằn vặt của chính tâm hồn người làm thơ. Là người lính từng gắn bó số phận mình với nhân dân trong chiến tranh, là đứa con của một vùng đất nghèo khổ và quật cường, Hoàng Trần Cương đã “hút” được vào mình khí chất của người xứ Nghệ và đất đai xứ Nghệ. Để khi thành thơ, những quẫy cựa của đất, những vật vã của phận người đã trở thành nhịp điệu thơ, ngôn ngữ thơ, những vùng sáng và mảng tối trong từng câu thơ. Nhiều khi, ánh sáng và bóng tối trong thơ Cương quẫy tung như cá quẫy trong mảnh lưới từ ngữ, muốn thoát mà không thoát được. Những con cá thơ uất nghẹn. Đi tới tận cùng số phận nhân dân trong thơ, Hoàng Trần Cương đã gặp chính mình. Đó cũng là con đường thơ của một lớp nhà thơ chống Mỹ. Bây giờ nhìn lại, đó vẫn là con đường đẹp nhất, tuy cũng vất vả nhất, vật vã nhất.
Trầm tích là thành công rất đáng ghi nhận của Hoàng Trần Cương. Nhưng tập thơ này cũng làm khó cho anh không ít, bởi anh sẽ rất khó để vượt qua được nó. Nhưng vẫn tốt, làm một tập thơ hay còn hơn tải ra thành mười tập thơ làng nhàng. Xin chúc mừng Hoàng Trần Cương!