Danh sách Hội viên vần D,Đ

NHÀ VĂN VIỆT NAM

VẦN D

Lâm Thị Mỹ Dạ
Họ và tên khai sinh: Lâm Thị Mỹ Dạ. Sinh ngày 18 tháng 9 năm 1949. Quê quán: huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: thành phố Huế. Vào Hội năm 1978.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác:  Từng là biên tập  viên, phóng viên trong
những năm chiến tranh.  Tốt nghiệp trường Đại học Văn
hoá (khoa Viết văn) 1979-1983. Tốt nghiệp Học viện
văn học Gorki (Liên Xô cũ) 1998. Từng làm phóng viên, biên tập viên văn học, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên- Huế, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III, khoá VI. Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên-Huế, khoá VI.  Uỷ viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khoá V. Uỷ viên Ban chấp hành Hội Phụ nữ Việt Nam khoá VII.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Trái tim sinh nở (1974, in chung với nhà thơ ý Nhi); Bài thơ không năm tháng (1983); Hái tuổi em đầy tay (1990); Mẹ và con (1995); Đề tặng một giấc mơ (thơ, 1999);  Tập thơ “Green Rice” ( Cốm non, in và phát hành tại Hoa Kỳ, 2005); Hồn đầy hoa cúc dại (2007). Truyện thiếu nhi: Danh ca của đất (1984); Nai con và dòng suối (1989); Nhạc sĩ Phượng Hoàng (1989); Tuyển tập thơ và truyện thiếu nhi (2006).
*  Giải thưởng Văn học: Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1973. Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam 1981-1983 cho tập thơ Bài thơ không năm tháng. Giải A  Thơ Giải thưởng văn học Cố đô  (1998-2003) của UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế và Hội LHVHNT Thừa Thiên- Huế. Và nhiều giải thưởng khác. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Không thể lấy một tải thơ nào làm tiêu chuẩn chân lý cho thơ. Mỗi thi nhân đích thực đều có sự “lấp lánh” riêng, không ai giống ai. Người có bản lĩnh thơ là người biết chấp nhận sự thách đố của thời gian chứ không chấp nhận sự thách đố nào khác. Sự đam mê thơ, đam mê cái đẹp là sự thành công một nửa của người làm thơ.
Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thường. Nhìn thấy nó đã khó, mà diễn tả được nó càng khó. Người ta chỉ đạt đến thơ như khi một quả trứng nóng bức tới mức tự nó phải tách vỏ nở ra đời sống – một đời sống sinh động, có hình hài. Nếu vội bóc lớp vỏ đi khi chưa đến độ thì sẽ chẳng bao giờ đạt đến thơ mà chỉ có những ngôn từ chết. Vì vậy, có được một bài thơ hay vô cùng khó.
Yếu tố để có thơ hay theo tôi là phải sống thật với chính mình.
 
Nguyễn Văn Dân
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Dân. Sinh ngày 16 tháng 1 năm 1950. Quê quán: Quất Lưu, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Hiện thường trú tại: Số 3, hẻm 114/14 ngõ Thổ Quan, Khâm Thiên, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1997.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1972: tốt nghiệp cử nhân Ngữ văn tại Rumani. Từ 1973-1976: công tác tại Uỷ ban khoa học và kỹ thuật nhà nước. Từ 1977 đến nay: làm nghiên cứu và thông tin về văn học tại Viện thông tin Khoa học xã hội. Năm 1994: Tiến sĩ văn học. Tham gia giảng dạy tại trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Huế. Từ năm 2000: là Uỷ viên Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2004: Phó giáo sư văn học. Từ 2005 là Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Từ điển thần thoại Hy Lạp – La Mã (biên soạn, 1993, 2000); Lý luận văn học so sánh (chuyên luận, 1998, 2000, 2003); Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng (tập tiểu luận, 1999); Thần thoại Hy Lạp (biên soạn, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006); Văn học phi lý (chuyên luận, 2002); Phương pháp luận nghiên cứu văn học (chuyên luận, 2004); Vì một nền lý luận- phê bình văn học chất lượng cao (tập tiểu luận, 2005); Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (chuyên luận, 2006); Dịch khoảng 20 đầu sách văn xuôi, kịch và thơ của nước ngoài từ tiếng Rumani, Pháp và Anh.
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000 loại B (không có loại A) cho cuốn Nghiên cứu văn học – lý luận và ứng dụng (1999).
*  Suy nghĩ về nghề văn: Mặc dù rất yêu văn chương từ khi còn bé, nhưng tôi không có ước mơ trở thành nhà nghiên cứu văn học. Rồi tôi được phân công học chuyên ngành Ngữ văn tại Rumani. Thế là tôi bước vào nghề văn với một tâm trạng bất đắc dĩ. Song tôi nhanh chóng xác định: Dù yêu hay không yêu, nhưng nếu có trách nhiệm thì nghề gì cũng cho ta những cơ hội tốt đẹp. Với gánh nặng trách nhiệm, tôi làm việc không phải bằng cảm xúc bay bổng si mê, mà là bằng tư duy lôgic lạnh lùng của toán học. Mục tiêu của tôi là chân lý chính xác. Giờ đây, tôi không hề hối tiếc là “đã phải” theo nghiệp văn chương, vì tôi đã tìm được một niềm vui nho nhỏ khi thấy mình đóng góp được phần nào cho sự nghiệp văn học nước nhà.
 
Trần Dần
(1926-1997)
Họ và tên khai sinh: Trần Văn Dần. Sinh ngày 23 tháng 8 năm 1926, tại thành phố nam Định. Quê quán: phố Năng Tĩnh, thành phố Nam Định. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 17 tháng 1 năm 1997.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Học hết 4 năm Thành Chung ở Nam Định (tương đương PTTH ngày nay), lên Hà Nội học tiếp trường tư thục Louis Pasteur và Văn Lang, đỗ tú tài phần II. Năm 19 tuổi (1945) bắt đầu tham gia Cách mạng, kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn nghệ.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Người người lớp lớp (tiểu thuyết, 1954); Cách mạng tháng Tám (thơ, in chung trong tuyển tập Thơ Việt Nam, 1945-1956); Nhất định thắng (thơ, 1956); Cách mạng tháng Tám (thơ, in chung, 1989); Bài thơ Việt Bắc (thơ, 1990); Cổng tỉnh (thơ, tiểu thuyết, 1994) và hơn một chục cuốn sách dịch, trong đó có những cuốn Những người chân đất (tiểu thuyết); Chú bé, Cậu Tú, Chú Nhóc Đen, Giết người là nghề của tôi…
* Giải thưởng văn học: Tặng thưởng Thơ của Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 (thơ – tiểu thuyết Cổng tỉnh). Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.*  nhà thơ tâm sự: Trung thực một lòng cho đổi mới văn học. Phải “chôn” văn học tiền chiến (Tự lực văn đoàn, Thơ mới…) vào lịch sử. Có như vậy mới mở ra được một thời đại văn học thực sự mới.
 
 
Nguyễn Dậu
Bút danh khác: Dã Nhi, Tiêu Giản – Thu
(1930-2002)
Họ và tên khai sinh: Trương Mẫn Song. Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1930. Quê quán: thành phố Hải Phòng. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mất ngày 24 tháng 7 năm 2002.*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1946 hoạt động trong đội võ trang tuyên truyền ở địch hậu. Thời gian ở quân đội, từng là cán bộ quân y, xạ thủ pháo 105 ly. 1954 về Tổng cục Chính trị làm việc ở phòng Văn nghệ quân đội. Sau đó, làm biên tập ở báo Văn nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Nữ du kích Cam Lộ (tiểu thuyết); Đôi bờ (tiểu thuyết, 1957); Mở hầm (tiểu thuyết, 1961); Vòm trời Tĩnh Túc (tiểu thuyết); Nàng Kiều Như (tiểu thuyết, 1991); Nhọc nhằn sông Luộc (tiểu thuyết); Xanh vàng trắng đỏ đen (tiểu thuyết); ánh đèn trong lò (truyện ngắn, 1960 ); Huệ Ngọc (tập truyện); Con thú bị ruồng bỏ (truyện ngắn, 1990); Rùa hồ Gươm (tập truyện); Hương khói lòng ai (tập truyện); Chó sói gửi chân (tập truyện); Tất cả hiến dâng Đảng (dịch); Truyện người da đen nước Mỹ (dịch); Quyển sách thấy ở Thuận Xuyên (dịch)… Đôi hoa tai lấp lánh (1995); Phật tại tâm (1997); Bảng lảng hoàng hôn (1997).
*  Suy nghĩ về nghề văn: – Tôi nghĩ rằng nhà văn trước hết là một con người sống trong xã hội – Anh ta cần phải cùng đồng cam cộng khổ chia sẻ mọi trách vụ công dân với mọi người và bởi vì anh tự nguyện là một nhà văn có nghĩa là anh phải trong sáng hơn, lương thiện hơn, hy sinh vị tha hơn những người khác. Chân – Thiện – Mỹ theo tôi, đó là tiêu chí rạng rỡ nhất, cao quý nhất mà nhà văn theo đuổi. Đồng thời đó cũng là mục tiêu vô tư, thánh thiện và đầy đủ ý nghĩa cao đẹp nhất đối với nhà văn.
 
Dương Trọng Dật
Bút danh khác: Nguyễn Dương
Họ và tên khai sinh: Dương Trọng Dật. Sinh năm 1947. Quê quán: Kinh Môn, Hải Dương. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng. Hiện thường trú tại: thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1990.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1970: Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, vào Nam công tác trong ngành tuyên huấn. Từ 1975: công tác tại Hội Văn nghệ Giải phóng, dạy lý luận văn học tại Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh rồi chuyển sang báo Sài Gòn giải phóng cho đến nay.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Khoảng trời chiến sĩ (thơ, 1985); Những miền đất nhớ (thơ, 1985); Người đồng hành (truyện ngắn, 1985); Đất khát (tiểu thuyết, 1986, 2001); Những ngôi sao con gái (tiểu thuyết, 1987, 1999); Ngày cuối cùng của chiến tranh (truyện ngắn, 1987, 2001); Hội chứng chảy máu vàng (tiểu thuyết, 1989); Cát bụi đô thành (tiểu thuyết, 1991); Những vần thơ trái mùa (thơ, 1992); Thơ Dương Trọng Dật (1998); Lòng đạo xin tròn một tấm gương (tiểu luận phê bình, 2000); Bi kịch thời bình (tiểu thuyết, 2000); Lốc tháng tư (tiểu thuyết, 2001); Hoa đất (thơ, 2002);
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội, 1981. Giải thưởng viết về đề tài lực lượng vũ trang của Bộ Quốc phòng 1995-2000.
*  Suy nghĩ về nghề văn:
 Bao nhiêu tham vọng công danh
 Rồi sẽ tan ra cát bụi
 Duy có một điều còn lại
 Nghìn năm hai chữ nhân tình
 
Hồ DZếnh
Họ và tên khai sinh: Hà Triệu Anh. Sinh năm 1916 tại xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá, (cha là Hà Kiến Huân, gốc Hoa từ Quảng Đông di cư sang Việt Nam). Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 13 tháng 8 năm 1991.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Thuở nhỏ, ở Thanh Hoá học trường Nhà Chung. Từ cấp trung học, ra Hà Nội, vừa học, vừa kiếm sống bằng nghề gia sư và làm công cho các hiệu buôn người Hoa. Ngay từ 1937, đã làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên các báo: Trung Bắc chủ nhật, Tiểu thuyết Thứ Bảy, tập san Mùa gặt mới… Kháng chiến chống Pháp, về sống ở Thanh Hoá, sau ngày hoà bình (1954), ra Hà Nội, tham gia Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam khoá I. Sau đó đi thâm nhập thực tế, làm thợ đúc thép và thợ cơ khí ở nhà máy xe lửa Gia Lâm. Sống với công nhân và sáng tác văn học.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Chân trời cũ (truyện ngắn, 1942); Một chuyện tình mười lăm năm về trước (tiểu thuyết, 1942); Quê ngoại (thơ, 1943); Cô gái Bình Xuyên (tiểu thuyết, 1946); Hoa Xuân đất Việt (thơ, 1946); Người nữ cứu thương Trung Hoa (kịch một màn, công diễn 1947); Đi hay ở (kịch một màn, công diễn 1955); Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc (tuyển chọn, 1988).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.*  “Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình như là người mới bắt đầu bước vào nghề viết. Tuy nhiên, với hai tập văn thơ Chân trời cũ và Quê ngoại, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà văn có chân tài”.
(Trích Lời giới thiệu Tuyển tập Hồ Dzếnh – Tác phẩm chọn lọc,
Nxb. Văn học, H,1988).
 
Trần Diễn
Họ và tên khai sinh: Trần Diễn. Sinh ngày 14 tháng 10 năm 1944. Quê quán: xã Chân Lý, Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Nguyên Đại tá, Bộ Công An. Hiện là Tổng biên tập Tạp chí Sách và Đời sống. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1999.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từng công tác tại Bộ Đại học, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Công an. Từ năm 1981 công tác tại  Nhà xuất bản Công an nhân dân, là Phó giám đốc, rồi Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà xuất bản Công an nhân dân. Tốt nghiệp cao cấp Học viện Nguyễn ái Quốc.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Mã số 07 (truyện phản gián, 1984); Cuộc truy tìm T72 (tiểu thuyết, 1986); Đường dẫn đến tội lỗi (tiểu thuyết, 1988); Bức thư giải oan (tiểu thuyết,1989); Trùm phản chúa, (tiểu thuyết, 1990); Mihara – người bạn Nhật (tiểu thuyết, 1990);  Đứa con lạc mẹ (tiểu thuyết, 1991); Hai người tìm nhau (tiểu thuyết, 1992); Yêu người xứ lạ (tiểu thuyết, 1992); Kịch bản phim truyện Người cận vệ (1990); Chạy trốn qua đêm (tập truyện, 1994); Trần Diễn – Tiểu thuyết, 3 tập,  (2003).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn và Bộ Công an về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống cho tác phẩm Đứa con lạc mẹ. Giải thưởng 10 năm văn học về đề tài an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống cho tiểu thuyết Bức thư giải oan.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Viết tiểu thuyết là biết sử dụng ưu thế trội của người sống trong cuộc, tận dụng tối đa chất liệu đã được tích luỹ và không ngừng mở rộng, tái tạo lại chúng. Chính vì vậy, tôi chỉ viết cái xung quanh mình, con người đã từng sống, học tập, chiến đấu bên tôi, đó là các chiến sĩ công an. Song không phải đi sâu khai thác mặt nghiệp vụ, tính chất ly kỳ của truyện mà khai thác khía cạnh suy nghĩ tình cảm con người của họ, bởi chữ tình duy trì cả thế giới, duy trì từ xã hội, chế độ này sang xã hội, chế độ khác. Viết được những  điều này chắc chắn  tác phẩm sẽ sống mãi với thời gian. Điều đó cắt nghĩa tại sao những tiểu thuyết của tôi có yếu tố trinh thám lại nặng về tâm lý xã hội.
 
Đinh Công Diệp
Họ và tên khai sinh: Đinh Công Diệp. Sinh ngày 13 tháng 10 năm 1942. Quê quán: Ninh Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: Tổ 11, Phan Thiết, thị xã Tuyên Quang. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2006.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: ĐÃ qua các công việc: Phóng viên báo Văn nghệ Tuyên Quang, biên tập viên báo Văn nghệ Hà Tuyên; biên tập viên báo Văn nghệ Gia Lai- Kon Tum, rồi biên tập viên báo Văn nghệ Tân Trào.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Chỉ mình em mặc áo đen (tiểu thuyết, 1995,1997); Cô bé lắc chuông (tập truyện, 1996).
*  Giải thưởng văn học: Truyện ngắn Suối tiên, giải nhì (không có giải nhất) do tạp chí Văn nghệ Việt Bắc trao tặng năm 1971; Tiểu thuyết Chỉ mình em mặc áo đen, tặng thưởng do Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam trao tặng năm 1996.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Ngày bé, tôi cũng như bao đứa trẻ: ưa nghịch trò tinh quái và thích đọc sách. Kỳ thay, mỗi cuốn sách là một  chân trời, vừa thân quen, vừa xa lạ. Tôi ước mình cũng sẽ viết được một quyển như thế. Tôi biết đâu rằng từ ước mơ đến sự thật là cả một chặng đường dài vất vả, khó nhọc!
Vào đời tôi làm trong ngành văn hoá văn nghệ. Do tính chất công việc, được đi nhiều nơi, được đắm mình trong người, trong cảnh. Người và cảnh luôn ám ảnh tôi, đòi trả nợ!
Viết văn xưa nay thành thì ít mà loại thì nhiều. Tuy thế, mỗi khi thành tôi thường đọc lại mình rất kỹ,  bỗng nhận ra người biên tập – những bà đỡ tài hoa, âm thầm  và nhân hậu. Thứ đến là độc giả – người khen, người chê đều là bậc thầy mình cả.
Thế là: Từ cuộc sống này, tôi bước vào nghiệp văn với ba thứ chính yếu: Sách- Người biên tập và Độc giả!
 
Hồng Diệu
Họ và tên khai sinh: Đỗ Văn Thuận. Sinh ngày 12 tháng 01 năm 1945. Quê quán: xã Xuân Bắc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Cán bộ sáng tác – Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hiện thường trú tại: số nhà 23 ngõ 4 phố Ông ích Khiêm, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1990.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1961 đến 1969 học các trường quân đội trong nước và nước ngoài. 1969 đến 1977: công tác ở Bộ Tư lệnh Thông tin. Từ 1978 đến nay: công tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội. Từng là Trưởng ban lý luận- phê bình.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Bốn tập phê bình tiểu luận: Nhà văn – trang sách (1993), Phía sau dòng chữ (1997), Người lính – nhà văn (1998 – tái bản có bổ sung, 2003), Qua văn hiểu người (2005). Thơ tình thế giới (sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu – in  lần đầu 1988, tái bản, chỉnh lý lần thứ nhất 1995, lần thứ năm 2004); Trên bầu trời xa lạ (truyện dịch, 1988); Vũ Cao tuyển tập (tuyển chọn và giới thiệu, 1997); Truyện ngắn các tác giả đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (tuyển chọn và giới thiệu, hai tập, 1998); Trần Thanh Mại toàn tập (sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, ba tập, 2004),…
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Bộ Quốc phòng 5 năm 1994-1999 cho tập phê bình và tiểu luận Người lính-nhà văn.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Theo tôi, một nhà văn – trong đó có nhà phê bình – có ba thứ không thể thiếu, đó là: năng khiếu, sự say mê và khả năng tự học. Nên lưu ý đặc biệt điều kiện thứ ba; nó liên quan đến nhiều thứ lắm. Có tự học, ta mới biết được những gì cần thiết cho việc viết văn, những gì cần thiết cho việc làm một nhà văn, và những gì cần thiết cho việc làm một con người… Trong phê bình (cũng như nghiên cứu, lý luận) văn học, tôi thích giản dị hoá những điều phức tạp, và rất “dị ứng” với lối phức tạp hoá những điều giản dị. Tôi thích kiểu nghiên cứu, phê bình mà người đọc có trình độ trung bình có thể hiểu được, đồng thời giới nghiên cứu, lý luận, phê bình và các nhà văn cũng không thể bỏ qua. (Mà làm được việc này không phải dễ!)
 
Xuân Diệu
Bút danh khác: Trảo Nha
(1917-1985)
Họ và tên khai sinh: Ngô Xuân Diệu. Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1917 tại Bình Định. Quê quán: Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 18 tháng 12 năm 1985 tại Hà Nội.
*   Vài  nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Sau khi đậu tú tài, năm 1940, làm viên chức ở Mỹ Tho. 1943 xin thôi việc ra Hà Nội. 1944 tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng Tháng Tám, hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc, thư ký toà soạn tạp chí Tiên phong. Kháng chiến chống Pháp công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, Hội Văn nghệ Việt Nam, thư ký toà soạn tạp chí Văn nghệ, là uỷ viên thường vụ, uỷ viên Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I, II, III). Đại biểu Quốc hội khoá I. Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức (1983).
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Thơ thơ (1938, tái bản nhiều lần); Gửi hương cho gió (1945, 1967); Ngọn quốc kỳ (1945, 1961); Hội nghị non sông (1946); Dưới sao vàng (1949); Riêng chung (1960); Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962); Một khối hồng (1964); Hai đợt sóng (1967); Tôi giầu đôi mắt (1970); Hồn tôi đôi cánh (1976); Thanh ca (1982); Một chùm thơ (tuyển, Pari, 1983); Tuyển tập Xuân Diệu – tập I (1982, 1986). – Văn xuôi: Phấn thông vàng (1939, 1967); Trường ca (1945, 1957); Miền Nam nước Việt (1945); Việt Nam nghìn dặm (1946); Việt Nam trở dạ (1948); Ký sự thăm nước Hung (1956); Triều lên (1958). – Tiểu luận phê bình: Thanh niên với quốc văn (1945); Những bước đường tư tưởng của tôi (1958); Dao có mài mới sắc (1963); Và cây đời mãi mãi xanh tươi (1971); Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978); Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (2 tập, 1981, 1982); Công việc làm thơ (1984). – Dịch: Thi hào Nadim Hítmét (1962); Vây giữa tình yêu (1968); Thơ Nicôla Ghiden (1982); Những nhà thơ Bungari (1985)…
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 (tập thơ Ngôi Sao). Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt I, 1996.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Cách mạng đã mở ra cho tôi những chân trời mà trước đây tôi không thể mơ ước được. Bây giờ ngày càng có nhiều người đọc sách, đọc thơ. Trước Cách mạng, tôi là nhà thơ của một số ít người. Sau Cách mạng tôi trở thành nhà thơ của đông đảo quần chúng. Con dế mèn trong đám cỏ gáy lên không phải để cho riêng mình. Nó gáy lên để tìm bạn. Nhà thơ mong muốn sao lời ca của họ được hàng triệu người nghe. Sự công nhận của đông đảo quần chúng là nguồn sức mạnh, nguồn cảm hứng của tôi.
… Tôi là học sinh của nhiều nhà trường; mãi mãii tôi vẫn là học sinh. Dù vậy, tôi đi trên đôi chân mình và điều cơ bản nhất mà thơ tôi hiến cho bạn đọc là những giọng điệu của tôi, là tâm khảm, là linh hồn của tôi.
 
Nguyễn Văn Dinh
Các bút danh khác: Thanh Viên, Linh Giang
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Dinh. Sinh ngày 5 tháng 3 năm 1932. Quê quán: xã Quảng Thanh, Quảng Trạch, Quảng Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: phường Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1982.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia kháng chiến chống Pháp, cán bộ tuyên huấn trong quân đội, sau chuyển sang làm báo. Phó tổng biên tập báo Quảng Bình, Phó chủ tịch Hội nhà báo Quảng Bình, Uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam , Quảng Bình, Trưởng ban Tuyên huấn Hội chữ thập đỏ Quảng Bình.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Trường ca Quảng Bình (in chung, 1956); Cánh buồm (thơ, 1976); Gặp nụ cười (thơ, 1980); Lá mướp lá bàng (thơ, 1987); Chút mặn mòi (thơ, 1989); Hoa quê Bác (in chung, thơ, 1991); Tự tình (thơ, 1991); Giàn thiên lý (thơ, 1992); Hai con sóng (thơ, 1995); Lời dã tràng (thơ, 1996); Nhớ Bác Hồ (thơ, 2000); Nhớ Bác Hồ gồm 114 bài thơ tứ tuyệt (in 2005).
*  Giải thưởng Văn học: Giải thưởng thơ Lưu Trọng Lư (Quảng Bình); giải thưởng thơ ca trong kháng chiến chống Pháp (1953) của Bộ Tư lệnh Quân khu IV; giải thưởng của Bộ Quốc phòng; giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Lâm nghiệp về thơ; giải B cuộc thi thơ người cao tuổi toàn quốc (2004).
*  Suy nghĩ về nghề văn: Mẹ tôi vốn là người theo đạo Phật, từ nhỏ tôi đã được mẹ dạy cho điều Thiện, khi trưởng thành đi vào con đường báo chí, văn học, hướng tác phẩm theo Chân, Thiện, Mỹ… Trong nước, trên thế giới, những tác phẩm viết về điều Thiện, chống cái ác bao giờ cũng được mến mộ, lưu truyền … Tôi luôn hướng lòng về cái Thiện, từ cái tâm mà mẹ tôi đã dạy cho thủa ấu thơ. Đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam, theo đường Bác chọn, tôi thấy Đảng, Bác cũng làm điều Thiện vì giai cấp cần lao, vì người cùng khổ. Vì vậy tôi luôn say mê với sáng tác văn học, với điều Thiện. Tôi ngợi ca, từ cây cỏ cho đến con dã tràng (Trận đấu dã tràng với sóng vẫn hoà: không). Tuy chưa làm được gì nhiều, song tôi tự nghĩ: Dẫu viết vạn câu thơ để lại ngày mai. Dẫu in mấy nghìn trang tiểu thuyết. Dẫu gửi tâm hồn lên trời xanh mây biếc. Vẫn không ra ngoài những chữ đánh vần từ thủa sơ khai. Tôi tạ ơn nhân dân, các bậc thi nhân các bậc tiền bối đã giúp tôi có được đôi câu thơ lưu lại với đời.
 
 
Phạm Doanh
Bút danh khác: Hoàng Nguyên
Họ và tên khai sinh: Phạm Đình Doanh. Sinh ngày 19 tháng 12 năm 1942. Quê quán: Hoàng Động, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó chủ tịch thường trực Hội Văn nghệ Đăk Lăc. Tổng biên tập tạp chí Chư Yang Sin. Hiện thường trú tại: phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắc Lắc. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2001.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Làm công nhân xây dựng vùng Đông Bắc Việt Nam từ năm 1959. Năm 1987 vào công tác ở Hội Nông dân tỉnh Đăk Lăk. Từ 1990 chuyển sang Hội Văn nghệ Đăk Lăk. Sáng tác thơ từ những ngày làm công nhân ở Quảng Ninh.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: gồm các tập thơ: Xứ đầu tiên (1974); Đất rộng trời xanh (in chung, 1978); Trước ô cửa nhà dài (in chung, 1993); Lục bát phượng yêu (in chung, 1994). ấy là tôi (1997).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hạ Long của UBND tỉnh Quảng Ninh năm 1983. Giải thưởng văn học đề tài công nhân (1972-1975) của Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Giải thưởng VHNT năm 1997 của UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Tôi đã từng say đắm vẻ đẹp hàng trăm bài thơ, hàng ngàn câu thơ của các nhà thơ qua nhiều thời đại. Muốn tự sáng tạo ra những vẻ đẹp ấy để thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của mình tôi đã làm thơ. Vì vậy, tôi không dám coi thơ là một nghề, mà chỉ là một “thú chơi tao nhã”. Tôi nghĩ, cho dù có cần phải biến hoá đến đâu, cũng cần phải chứa đựng cảm xúc chân thực của tác giả thì thơ mới cần cho cuộc sống.
 
Hàn Thế Du(1916-2000)
Họ và tên khai sinh: Hứa Văn Lãng. Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1916. Quê quán: Liên Sơn, Tiên Sơn, Bắc Ninh. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam. Mất ngày 30-8-2000.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Xuất thân nông dân, từ nhỏ đã yêu văn chương. Được ảnh hưởng tốt của mẹ vốn dòng dõi Ngô Gia. Năm 1936, viết tiểu thuyết đầu tay Bóng mây chiều được giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Năm 1945, tham gia cách mạng, đến năm 1952, trở thành người viết chèo, cùng Thế Lữ, Lưu Quang Thuận. Đã từng là Trưởng ty Thông tin tỉnh Lạng Sơn, Đoàn trưởng đoàn Chèo rồi Phó giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Bóng mây chiều (truyện dài, 1936, tái bản 1940); Ca dao chiến dịch Cao Bắc Lạng (ca dao, 1950); Chị Đôi (chèo ngắn); Lưu Bình Dương Lễ (chèo cổ); Ngoài ra đã cải biên nhiều tích chèo cổ như Xuý Vân, An Tiêm Nàng út, Yết Kiêu giữ thuyền, Tình ca non nước…
 
Khổng Minh Dụ
Bút danh khác: Thái Dương
Họ và tên khai sinh: Khổng Minh Dụ. Sinh ngày 21 tháng 1 năm 1943. Quê quán: Tản Hồng, Ba Vì, Hà Tây. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: C20 tập thể Bộ Công an, khu Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2000.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Nhập ngũ quân đội NDVN năm 1961 (F335-QKTB). 1965: về Cục II (tình báo Quân đội); 1965-1975: đi chiến trường B (Nam Bộ). 12-1975 chuyển ngành sang Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). 1976-1980: học trường nghiệp vụ Công an. 1978-1980: Học trường Cao cấp chính trị Nguyễn ái Quốc. 1985 học tại Học viện An ninh Liên Xô. Thiếu tướng Bộ Công an. Cục trưởng Cục An ninh văn hoá tư tưởng.  Sáng tác văn học từ năm 1970.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Miền quê yêu dấu (tập truyện ký, 1995); Nối dài thương nhớ (thơ, 1997); Trong tiếng sóng biển xa (tập truyện ngắn, 1997); Mầu nhớ (thơ, 1998); Lặng thầm (thơ, 2000); Năm tháng đi qua (thơ, 2002).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng về truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Nam năm 1972. Giải thưởng Cây bút vàng năm 1998 của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Công an tặng. Giải thưởng văn học đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” 1995-2005 của Bộ Công An và Hội Nhà văn Việt Nam tặng.
* Suy nghĩ về nghề văn: Cái khổ của người cầm bút là thế, có những nỗi đau vò xé suốt cuộc đời. Dường như viết ra dù chỉ là một phần nhỏ bé. Song, đó là sự giải toả bớt nỗi day dứt cho mình và cũng là trả một phần nghìn “món nợ” với đời. Món nợ mà tạo hoá đã cho vay. Đừng nghĩ rằng cái mà người vẫn bảo: Năng khiếu bẩm sinh, trời phú… là tự dưng mà có. Văn nhân ơi! Thi sĩ ơi! Quý vị là “con nợ” của sự nghiệp văn chương mà cả cuộc đời không trả hết.
Cái nghiệp văn chương là như thế
Số phận nhân gian số phận mình
ước chi mãi được là con trẻ.
Để khỏi đau đời đau kiếp văn.
 
Phạm Tiến Duật
( 1941-2007)
Họ và tên khai sinh: Phạm Tiến Duật. Sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941. Quê quán: thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1970.
*   Vài  nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Cha là nhà giáo, dạy chữ Hán và chữ Pháp. Mẹ làm ruộng, không biết chữ. Từ bé đã đi học xa nhà. Qua bậc phổ thông đến hết Đại học Sư Phạm Văn khoa Hà Nội rồi gia nhập quân đội. Sống và viết trong chiến tranh trên đường mòn Hồ Chí Minh (8 năm trong tổng số 14 năm quân ngũ). Từng là Phó trưởng ban đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam; Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (7/2001-6/2006).
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970); Thơ một chặng đường (thơ, 1971); ở hai đầu núi (thơ, 1981); Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983); Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994); Nhóm lửa (thơ, 1996); Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 2000); Vừa làm vừa nghĩ (2003).
*  Giải thưởng văn học: Giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 (tặng thưởng) cho tập tiểu luận Vừa làm vừa nghĩ. Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt I, 2001.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Nhân dịp tròn 50 năm văn học, giáo sư Lê Đình Kỵ có viết trên Văn nghệ, đại ý rằng, trong thời kỳ chống Mỹ có hai trường phái thơ: trường phái Chế Lan Viên và trường phái Phạm Tiến Duật. Trường phái thứ nhất, tìm cái đẹp từ bên trong ngưng đọng trong lý trí; trường phái thứ hai chủ yếu tìm cái đẹp từ trong các diễn biến sôi động của cuộc sống. Lê Đình Kỵ đã gọi đúng về tôi. Nếu không có cuộc sống với những con người đa dạng ồn ào bao quanh với xô bồ chi tiết trôi chảy từng phút, từng giờ, thì hình như tôi không có thơ. Tài liệu của văn chương, căn cớ của văn chương có thể là cái ác, nhưng mục đích của văn chương phải là cái Thiện. Cái ác lấy sự sắp đặt lý trí làm trọng còn cái Thiện lấy sự uẩn xúc của tình đời làm trọng. Có nền văn học nào trên thế giới lại thiếu cái tình uẩn xúc ấy? Cứ ngẫm một hồi về thơ Đường và thơ Tống, cũng rõ.
Nhưng muốn làm cái ác đã khó mà muốn làm cái Thiện còn khó hơn nhiều. Muốn có cái thiện của thời này phải học kỹ lưỡng lắm. Chẳng hạn, muốn trung thực mà không hiểu biết cũng không thể trung thực được. Vậy trước mặt nhà văn luôn luôn là một biến đổi.
 
Đỗ Đức Dục
Bút danh khác: Trọng Đức,
Như Hà, Tảo Hoài
(1915-1993)
Họ và tên khai sinh: Đỗ Đức Dục. Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1915. Quê quán: xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mất ngày 24 tháng 9 năm 1993, tại Hà Nội.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1936-1939, học trường Luật và đậu Cử nhân luật (năm 1939). Chịu ảnh hưởng tư tưởng cách mạng những năm 1929-1930 của Đảng, tham gia phong trào: Truyền bá chữ Quốc ngữ… đồng thời viết báo và dạy học tư ở Hà Nội, Vinh (Nghệ An). Trong những ngày trước và sau Cách mạng Tháng Tám, hoạt động cách mạng ở các cương vị: Chủ bút báo Độc lập, tham gia Đại hội Quốc dân Tân Trào, Đại biểu Quốc hội khoá I và được Quốc hội bầu vào Tiểu ban dự thảo Hiến pháp và là thuyết trình viên Bản dự thảo Hiến pháp, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam. Kháng chiến chống Pháp, đảm nhiệm các chức vụ: Phó bí thư Tổng bộ Việt Minh (1947-1950), uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên – Việt (1950-1951), Chủ nhiệm báo Độc lập (1950-1958), Giám đốc Trường viết báo Huỳnh Thúc Kháng tại chiến khu Việt Bắc. Sau hoà bình (1954), về Hà Nội, lần lượt đảm nhiệm các công việc: Thứ trưởng Bộ Văn hoá, uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Xô. Từ 1960, chuyển về làm chuyên viên nghiên cứu tại Viện Văn học.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Một tháng ở Liên Xô (bút ký, 1955); Hô-nô-rê đờ Ban-zắc (nghiên cứu, 1966); Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây (nghiên cứu, 1981); Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du qua Truyện Kiều (nghiên cứu); Từ ngôi nhà sàn của Bác Hồ, nghĩ về lối sống Việt Nam (tiểu luận). Dịch: Truyện ngắn chọn lọc của G. đờ Môpátxăng, ở Mỹ (của Mácxim Goócky); Truyện ngắn chọn lọc của Anphôngxơ Đôđê; Vỡ mộng (tiểu thuyết của Ban-dắc); Nông dân (tiểu thuyết của Ban-dắc); Miếng da lừa (tiểu thuyết của Ban-dắc); Bà Bôvary (tiểu thuyết của Phơlôbe).
 
Hồng Duệ
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Thị Hồng Duệ. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1944. Quê quán: Quảng Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: phường Tam Phú, Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Vào Hội năm 1990.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1969), gia nhập quân đội, là sĩ quan, biên tập viên của Nxb Quân đội nhân dân. Sau ngày miền Nam được giải phóng, xuất ngũ, từng làm việc ở tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam (bộ phận phía Nam), là Phó giám đốc, Phó Tổng biên tập Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh trước khi nghỉ hưu.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: gồm các tập truyện ngắn: Gió từ đất liền (1981); Ngày ấy qua rồi (1989); Từ hai đầu thành phố (2001).
 
Hoàng Kim Dung
Bút danh khác: Hoàng Kim
Họ và tên khai sinh: Hoàng Kim Dung. Sinh ngày 27 tháng 11 năm 1956. Quê quán: Phổ Yên, Thái Nguyên. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Cục Nghệ thuật biểu diễn. Hiện thường trú tại: Nam Trung yên, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2001.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Đã từng là diễn viên múa rối, Bộ đội Bộ Tư lệnh thông tin liên lạc, Trung đoàn 130. Cán bộ nghiên cứu Viện Sân khấu Bộ Văn hóa thông tin. ĐÃ hoàn thành chương trình sau Đại học. Phó Tổng biên tập tạp chí Sách (nay là tạp chí Xuất bản) Cục xuất bản Bộ Văn hóa- Thông tin. Hiện nay là chuyên viên Cục Nghệ thuật biểu diễn Bộ Văn hóa – Thông tin.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Nửa vầng trăng trôi (1991); Thời gian lặng (1994); Trong mưa (1997); Ô cửa giêng hai (2000); Dòng sông mùa hạ (2004). Sách nghiên cứu: Nghệ thuật múa rối và vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em (1992); Múa rối Việt Nam những điều nên biết (1997); Trang văn và sàn diễn (2004).
*  Giải thưởng văn học: Giải tư báo Người Hà Nội viết về Thăng Long – Hà Nội năm 1999-2000. Giải B Hội Nghệ sĩ Sân khấu cho tác phẩm Trang văn và sàn diễn (2004).
*  Suy nghĩ về nghề văn: Với tôi, thơ là sự ám ảnh không thể đừng. Viết là nỗi đam mê, là sự giải thoát, là nhu cầu của chính bản thân tôi giữa cuộc đời mà tôi đã sống với tất cả buồn vui, đau đớn, suy tư khát vọng… Để hướng tới lòng nhân hậu và yêu thương con người.
 
Trương Đăng Dung
Họ và tên khai sinh: Trương Đăng Dung. Sinh ngày 8 tháng 5 năm 1955. Quê quán: Diễn Trường, Diễn Châu, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó Viện trưởng Viện Văn học. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2000.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Budapest, Hungari năm 1978. Bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Budapest, Hungari năm 1984. Làm việc tại Viện Văn học từ 1978 đến nay. Phó Giáo sư văn học (1996). Phó Viện trưởng Viện Văn học.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Các vấn đề của khoa học văn học (chủ biên, 1990); Văn học và hiện thực (viết chung, 1990); Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998); Tác phẩm văn học như là quá trình (2004). Dịch: Truyện Kiều (dịch sang tiếng Hungari, 1984); Đứa trẻ mồ côi (tiểu thuyết Moricz Zigmond, 1987); Lâu đài (tiểu thuyết F.Kafka, 1998); Thằng điên và quỷ sứ (tiểu thuyết Sarkadi Imre, 2000). Ngoài ra còn dịch một số tác phẩm nghiên cứu và lý luận văn học.
 
 
Việt Dung(1927-1999)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Gia Du. Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1927 tại làng An Khoái, Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 31-1-1999.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia Cách mạng từ năm 1945, sau đó lên chiến khu Việt Bắc. Năm 1949, là huyện uỷ viên huyện Yên Sơn, Tuyên Quang kiêm trưởng ban Tuyên huấn. Năm 1950, uỷ viên Ban Tuyên huấn tỉnh, kiêm phó trưởng Ty tuyên truyền Văn nghệ Tuyên Quang. Từ năm 1954 về tiếp quản Hà Nội và công tác ở Sở Văn hoá Hà Nội, làm Trưởng phòng văn hoá đại chúng, chủ nhiệm Nhà sáng tác Hà Nội, Phó giám đốc Sở VHTT Hà Nội đến khi nghỉ hưu.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Chiếc vai cày (truyện thơ, 1953); Phát lau đánh cọp (thơ và ca dao, 1954); Sợi tơ vàng (chèo, 1964); Trưng Vương (cải lương, 1970); Tấm áo giáp thần kỳ (cải lương, 1972)…
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng chính thức Hội VNNT Hà Nội 1970 – Kịch bản Trưng Vương.
 
 
Bá Dũng
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Bá Dũng. Sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941. Quê quán: Hưng Thịnh, Hưng Nguyên, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: thành phố Vinh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1974.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1963-1972: cán bộ Tỉnh ủy Nghệ An. Từ 1972-1982: Uỷ viên Đảng đoàn Hội Văn nghệ Nghệ An. Từ năm 1983-1988: Phó Chủ tịch UBND thành phố Vinh. Từ năm 1989 từng là: là Uỷ viên thường vụ, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố Vinh. Hiện là Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Nghệ An.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Tiếng gọi (tập truyện, 1971); Nắng miền Trung (tiểu thuyết, 1973); Những bóng dáng yêu thương (tập truyện, 1974); Nắng sông Lam (truyện vừa, 1975); Đất gọi (tiểu thuyết, 1976); Bên những dòng sông (truyện vừa, 1977); Người đi phía trước (truyện vừa, 1978); Ngày mai đã đến (tập truyện, 1979); Một đời khát vọng (tiểu thuyết, 1980); Ngày phán xét (tiểu thuyết, 1982); Chuyện trong khu vườn cấm (tiểu thuyết, 1983); Bí mật trên đồi hổ táng (truyện vừa, 1985); Hành hương ngoài pháp luật (tiểu thuyết, 1987); Một thời để nhớ (tiểu thuyết, 1994); Tên em là Xiêm Huệ (tập truyện, 2000); Nỗi đau muôn thuở (tiểu thuyết, 2000); Muôn nẻo đường đời (tiểu thuyết, 2004); Một thời và mãi mãi (kịch bản).
*  Giải thưởng văn học: Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Nội vụ cho truyện vừa Nắng sông Lam năm 1975. Giải thưởng Nguyễn Du của UBND tỉnh Nghệ An cho tiểu thuyết Ngày phán xét năm 1985. Giải thưởng Hồ Xuân Hương của UBND tỉnh Nghệ An cho tiểu thuyết Nỗi đau muôn thuở, 2002, Giải C báo Văn nghệ cho bút kí Trở lại dự án ma, 2003. Giải C Uỷ ban toàn quốc các Hội LHVHNT Việt Nam cho kịch bản Một thời và mãi mãi.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Tôi chỉ viết những gì mà tôi hiểu biết sâu sắc nhất, những cái mà tôi từng sống chết, khổ đau, day dứt về nó. Nhà văn mà không có cái tâm trong sáng thì chẳng viết được cái gì cho ra hồn.
 
Lê Anh Dũng
Bút danh khác: Hoa Cẩm Chướng, Anh Lê
Họ và tên khai sinh: Lê Anh Dũng. Sinh ngày 28 tháng 12 năm 1962. Quê quán: Điện Hồng, Điện Bàn, Quảng Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Biên tập viên cao cấp, Nxb Quân đội nhân dân. Hiện thường trú tại: 184/18 Nguyễn Duy Hiệu, Đà Nẵng. Vào Hội năm 2006.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sau khi  tốt nghiệp Đại học Sư phạm Văn, là giáo viên Văn cấp III, rồi làm cán bộ tuyên huấn trong quân đội, phóng viên báo Quân đội nhân dân. Hiện là biên tập viên cao cấp Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, đại diện Nhà xuất bản này tại Đà Nẵng.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Thưa mẹ, phía trăng lên (trường ca, thơ, 2003); Đồng vọng (thơ, 2004); Giữa xanh thẳm đại ngàn (trường ca, 2004); Bồng mắt thỏ (thơ, 2005); Nửa cõi rong chơi (thơ, 2006); Một vùng đất (tập ký, 2002).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng thơ hay tạp chí Non Nước năm 2004; Giải ba cuộc thi truyện ký năm 2006 của Hội Liên hiệp VHNT thành phố Đà Nẵng.
*  Suy nghĩ về nghề văn:
Từ Một vùng đất – vùng văn
Chúng con Thưa mẹ, phía trăng lên  rồi
Đồng vọng giữa đất và trời
Giữa xanh thẳm đại ngàn lời núi sông
Bồng mắt thỏ trót phiêu bồng
Rong chơi nửa cõi bóng hồng gần xa
Buồn vui khắp nẻo ta bà
Dòng sông di sản vẫn là thực, hư..
Cuộc sống tôi hay mọi người, suy cho cùng là một cuộc chơi với số phận. Bíết chơi tốt, chơi đẹp và cho nhiều sẽ được nhận nhiều. Thái độ sống hết mình, sống thật, sống đẹp với sự trải nghiệm, cảm xúc tinh tế,  sâu sắc sẽ có tác phẩm xứng đáng. Tác phẩm ấy có xuất sắc hay không tuỳ thuộc vào nó có mang tư tưởng thời đại hay không, có đậm đà bản sắc dân tộc mình hay không.
 
Nguyễn Hữu Dũng
Các bút danh khác: Trung Dũng, Phương Chi, Hồng Việt, M.T
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu Dũng. Sinh ngày 2 tháng 11 năm 1948. Quê quán: xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: Hà Nội.
Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1990.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp đại học: 1971. Phó tiến sĩ: 1980. Phó giáo sư: 1992. Giảng dạy tại Đại học Thuỷ Sản từ 1971-1984. Từ 1984 đến nay công tác tại Vụ Khoa học công nghệ Bộ Thuỷ Sản.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: dịch phẩm chính: Quo Vadis (2 tập – tiểu thuyết Ba Lan, 1985); Hania (tiểu thuyết Ba Lan, 1986); Trên sa mạc và trong rừng thẳm (tiểu thuyết Ba Lan, 1986); Trên bờ biển sáng (dịch chung, tiểu thuyết Ba Lan, 1987); Đường công danh của Nikôđem Dizma (tiểu thuyết, 1988); Thầy lang (tiểu thuyết, 1988); Giáo sư Vintrur (tức Đánh mất tình em – tiểu thuyết, 1989); Con hủi (tức Tình yêu truyền kiếp – 2 tập, tiểu thuyết, 1990); Tơmếch và Thủ lĩnh Tia Chớp Đen (truyện, 1990); Con voi (tiểu thuyết, 1989); Vịt con xấu xí (truyện H.Anđecxen, 1985).
*  Giải thưởng Văn học: Giải thưởng dịch văn học của Hội Nhà văn Việt Nam 1987 cho hai tác phẩm dịch từ tiếng Ba Lan: Quo vadis và Trên sa mạc và trong rừng thẳm (đều của nhà văn Henryk Sienkiewicz).
 
Đinh Xuân Dũng
Họ và tên khai sinh: Đinh Xuân Dũng. Sinh ngày 3 tháng 4 năm 1945. Quê quán: Thanh Khai, Thanh Chương, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Vụ trưởng Vụ Xuất bản, Ban Tư tưởng- Văn hóa Trung ương, Uỷ viên thường trực Hội đồng Lý luận- phê bình- văn học nghệ thuật Trung ương. Hiện thường trú tại: 24 ngõ 183 phố Hoàng Văn Thái, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1990.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1962-1966: Sinh viên khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ 1966 đến 1975: Giảng viên khoa Ngữ văn – Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ 1975 đến 1999: công tác trong quân đội. Trưởng phòng Văn nghệ quân đội (1988-1990) kiêm Đoàn trưởng Đoàn Ca múa Quân đội (1989-1990). Phó Cục trưởng cục Tư tưởng-Văn hóa quân đội (1990-1998). Đại tá, Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân khu IV (1998-1999). Bảo vệ luận án tiến sĩ Văn học tại Cộng hòa dân chủ Đức năm 1982. Phó Giáo sư văn học (1991). Từ 1990-1998: Phó Chủ tịch Hội đồng văn học về chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang (Hội Nhà văn Việt Nam). Vụ trưởng Vụ Xuất bản, Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương (1999-2002).
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học (tiểu luận, 1990); Một số hiểu biết về văn học, nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ (chủ biên, 1996); Văn hóa – Văn nghệ và đời sống quân đội (tiểu luận, 1998); Nuôi dưỡng các giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam (chủ biên, 1999); Công tác tư tưởng – văn hóa trong xây dựng quân đội về chính trị (chủ biên, 2000); Mấy cảm nhận về văn hóa (tiểu luận, 2004); Văn học, văn hoá – tiếp nhận và suy nghĩ (Phê bình-tiểu luận, 2004); Các nhà xuất bản Việt Nam thế kỷ XX (chủ biên, 2006)…
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng năm 1994 (cho tác phẩm Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học).
*  Suy nghĩ về nghề văn: Lý luận và phê bình văn nghệ là thành tố hữu cơ của tiến trình vận động và phát triển của văn nghệ, đó chính là quá trình văn nghệ tự ý thức về mình. Trong vai trò đó, lý luận, phê bình văn nghệ vừa đồng hành với sáng tác để thấu hiểu và đồng cảm, vừa là nhân tố bình giá, phán đoán và dự báo, góp phần điều chỉnh và định hướng cho sáng tác, cho quá trình phát triển văn nghệ theo qui luật của bản thân nó và theo đòi hỏi khách quan của đời sống đối với văn nghệ.
Tôi đi theo con đường lý luận, phê bình văn học, có lẽ, bắt nguồn từ cảm nhận đó.
 
 
Kim Dũng
Bút danh khác: Anh Kim
Họ và tên khai sinh: Kim Trí Dũng. Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1939. Quê quán: phường Bạch Hạc, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Uỷ viên BCH Hội VHNT Phú Thọ, Thư ký toà soạn tạp chí Văn nghệ Đất Tổ. Hiện thường trú tại: phố Tiền Phong, phường Tiên Cát, Việt Trì. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2004.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: ĐÃ làm Hiệu trưởng trường phổ thông, BTVH cán bộ cấp II, III Việt Trì, Trưởng phòng VHTT, Uỷ viên UBND thành phố Việt Trì (1965-1985). Sau đó, làm uỷ viên Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam, tỉnh Phú Thọ cho đến năm 2000. Từ năm 2001 đến nay là Uỷ viên BCH Hội VHNT Phú Thọ, Thư ký toà soạn tạp chí Văn nghệ Đất Tổ. 
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Mùa lúa mùa trăng (thơ, 1978); Buồm mở cánh (thơ, 1990); Khát vọng (thơ, 1992); Trăng trên phố (thơ, 1997); Thức với dòng sông (thơ, 2001): Lòng tay hình châu thổ (thơ, 2004). Và có thơ in trong các tuyển tập thơ của các Nxb Hội Nhà văn, Văn học, Lao Động, Thanh Niên…
*  Giải thưởng văn học: Giải nhì cuộc thi thơ tỉnh Vĩnh Phú tổ chức năm 1980. Giải A về thơ, UBND tỉnh Phú Thọ tặng (1995-2000). Giải thưởng cuộc thi thơ lục bát của tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn tổ chức năm 2002. Giải thưởng VHNT Hùng Vương của tỉnh Phú Thọ (2005). ĐÃ được tặng Huy chương Vì sự nghiệp VHNT và Huy chương Vì sự nghiệp báo chí.
*  Suy nghĩ về nghề văn: ĐÃ mang lấy nghiệp văn chương là gian truân, vất vả, thậm chí phải trả giá đắt, chịu nhiều thiệt thòi, nhưng là một nghề cao sang tao nhã được nhân dân nể trọng và có một đời sống tâm hồn phong phú. Đó là niềm hạnh phúc, tự hào của người cầm bút. Vì, mọi chức sắc rồi cũng qua đi, văn chương còn lại muôn đời đối với một dân tộc yêu thơ, đã có ngàn năm văn hiến. Đó là niềm tự an ủi để tôi theo đuổi sự nghiệp văn chương không có ga dừng, suốt đời phải phấn đấu chung thuỷ với “Nàng Thơ”.
  
Nguyễn Địch Dũng
(1925-1993)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Địch Dũng. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1925, tại thôn Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mất ngày 26 tháng 10 năm 1993 tại Hà Nội.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Trước Cách mạng tháng Tám: học tại trường Cao đẳng Mỹ thuật. Sau cách mạng: làm công tác báo chí, tuyên truyền khu XI. Năm 1949: về công tác ở báo Sự thật. Năm 1951: làm công tác tuyên huấn ở tỉnh Bắc Ninh. Từ sau hòa bình 1954: công tác ở báo Nhân Dân, làm phóng viên nông thôn của Ban Công tác nông thôn, rồi chuyển sang phụ trách phần Văn nghệ trong Ban Văn hóa Văn nghệ.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Hai vợ (truyện ngắn, 1960); Trai làng Quyền (truyện ngắn, 1965, 1987); Người ở nhà (tiểu thuyết, 1974); Đoan (truyện ngắn, 1979).
 
 
Quang Dũng
(1921-1988)
Họ và tên khai sinh: Bùi Đình Dậu (tức Diệm). Sinh năm 1921. Quê quán: Phương Trì, Đan Phượng, Hà Tây. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 14 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Trước Cách mạng: học Ban trung học trường Thăng Long. Tốt nghiệp, đi dạy học tư ở Sơn Tây. Sau Cách mạng: vào quân đội, công tác ở phòng Quân vụ Bắc bộ, phóng viên báo Chiến đấu khu II. Năm 1947: đi học trường Bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau đó về Trung đoàn Tây Tiến, làm  Đại đội trưởng, Phó đoàn võ trang tuyên truyền Lào – Việt. Tháng 8-1951: xuất ngũ. Từ hòa bình lập lại làm công tác biên tập văn nghệ ở các báo, và ở nhà xuất bản Văn học.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Bài thơ sông Hồng (truyện thơ, 1956); Mây đầu ô (thơ, 1986); Mùa hoa gạo (truyện ngắn, 1950); Đường lên Thuận Châu (bút ký, 1964); Nhà đồi (truyện ngắn, 1970); Rừng về xuôi (bút ký); Một chặng đường Cao Bắc (bút ký, 1983); Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001.
*  “Việc mặc áo lính và là một cán bộ trong quân đội, đối với tôi ngày ấy có ý nghĩa thiêng liêng và tự hào lắm. Sau khi đi học, tôi về Trung đoàn Tây Tiến. Tiểu đoàn 212 của tôi trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát Bi, Bạch Mai… bây giờ chuyển sang nhận nhiệm vụ Tây Tiến.
Chúng tôi lúc đầu đi bằng ô tô, sau chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mở rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm “heo hút cồn mây súng ngửi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”… tôi mô tả trong thơ là rất thực… Hồi ấy trong đoàn chúng tôi có rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn, nên bộ đội không những bị ốm, mà còn chết vì sốt rét cũng nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một con người vĩnh biệt núi rừng. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn. Buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng…”
(Quang Dũng – Nhớ về Tây Tiến.
Trong Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb. Văn học, 1994,  trang 155).
 
Trần Dũng
Bút danh khác: Kỷ Sửu, Trần Thường
Họ và tên khai sinh: Trần Dũng. Sinh ngày 12 tháng 2 năm 1949. Quê quán: 28 Hàng Mâm, TP Nam Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó giám đốc kiêm Tổng biên tập NXB Lao Động. Hiện thường trú tại: 59 Hàng Bún, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1982.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Vốn là học sinh Hà Nội từng được giải nhì (không có giải nhất) kỳ thi học sinh giỏi văn lớp 7/10 toàn miền Bắc niên học 1963-1964. Tháng 12/1965 thôi học đi làm. 13 năm lái máy kéo hạng lớn và ôtô. Uỷ viên BCH Hội Văn nghệ Hà Nội khoá IV và V. Làm biên tập từ năm 1978. Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du khoá II. ĐÃ học lớp bồi dưỡng 9 tháng cuối cùng của Trường đại học Công đoàn CHDC Đức.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Giới hạn của biển (tập truyện ngắn, 1974); Những người hiểu nhau (tập truyện, 1978); Những ngày sắp đến (tập truyện, 1984); Hạnh phúc (tập truyện ngắn, 1985); Chuyện vịt con (truyện thiếu nhi, 1989); Chú lợn sữa (truyện thiếu nhi, 1993); Thương yêu (tiểu thuyết, 1993); Phần chìm của tảng băng (tập truyện, 2001).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học Thủ đô lần thứ nhất (1975-1980) cho tập Những người hiểu nhau. Giải thưởng văn học Thủ đô lần thứ hai (1980-1985) cho tập Hạnh phúc.
 
Trần Hữu Dũng
Bút danh khác: Hữu Dũng
Họ và tên khai sinh: Trần Hữu Đức. Sinh ngày 10 tháng 7 năm 1956. Quê quán: Long Bình Điền, Chợ Gạo, Tiền Giang. Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: phóng viên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: 777/296A Hưng Phú, phường 9, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Vào Hội năm  2003.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1979 tốt nghiệp Đại học Cần Thơ về ngành nông nghiệp, về công tác tại Sở Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 1990: làm phóng viên báo Văn nghệ  thành phố Hồ Chí Minh.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ Trần Hữu Dũng (1973); Dọc đường nhặt lấy nụ cười (thơ, 1990); Truông gió (thơ, 1992); Cô em bé bỏng (truyện vừa, 1996); Lá thông non và Em, Trăng, Sương mù (2005).
*  Giải thưởng văn học:  Giải thưởng Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 cho Lá thông non và Em, Trăng, Sương mù
 
 
Khương Hữu Dụng

Bút danh khác: Thế Nhu, Hy Doan,
Thiên Dân, t.n, h.d, h.z, z
(1907-2005)
Họ và tên khai sinh: Khương Hữu Dụng. Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1907. Quê quán: Hội An, Quảng Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Vào Hội năm 1957. Mất tại Hà Nội năm 2005.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1922-1926: học tại Quốc học Huế. Từ 1927: làm giáo viên ở Bình Định, Quảng Bình… Tham gia Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 ở Đà Lạt, trong Ban Thường vụ tỉnh Lâm Viên phụ trách tuyên truyền. Sau đó hoạt động ở Tân Văn hóa (mặt trận Việt Minh Trung bộ), Thanh niên cứu quốc Trung bộ. Năm 1950: vào bộ đội phụ trách tiểu ban Văn nghệ phòng Chính trị Bộ Tư lệnh liên khu V. Năm 1954: tập kết ra Bắc, chuyên chú với hoạt động làm thơ, dịch thơ, biên tập thơ. Bắt đầu làm thơ từ năm 1925 và đăng trên các báo Tiếng Dân, Phụ nữ Tân Văn, Phụ nữ thời đàm, Thế giới mới…
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Kinh nhật tụng của người chiến sĩ (1946); Từ đêm mười chín (1951); Bi bô (1985); Tuyển tập Khương Hữu Dụng (1992, 2004); Thơ Khương Hữu Dụng (1993). Tham gia dịch các tập thơ: Thơ Đường (tập I, tập III, 1961, 1963); Thơ Tống (1968); Thơ Nguyễn Trãi (1980); Thơ Hồ Chủ tịch và Nhật ký trong tù, Thơ Cao Bá Quát, Thơ Nguyễn Khuyến (1971); 
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1951-1952 với trường ca Từ đêm mười chín.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Thơ vốn không có tuổi. Thơ là máu thịt, là Đạo của tôi. Nên cùng với thơ, tôi vui sống, yêu nước và yêu đời, thanh bạch và vô tư, làm thơ và dịch thuật.
Tôi có ba cái nghĩ về mình: Về cuộc đời: “Sống chết từng qua cơn nước lửa; Vui buồn chỉ thoáng bóng mưa mây”. Nghĩ về thơ: “Bi bô từ thuở Tiếng Dân; Bạc đầu thơ vẫn tiếng xuân đánh vần”. Nghĩ về nghề: Bài thơ đầu tiên tôi viết năm 1925, Bài thơ chữ Hán tôi dịch đầu tiên năm 1928. Nếu coi đó là Nghề thì Nghề một đời của tôi là Làm thơ và dịch thơ.
Có thể nói, Thơ là nơi tôi đã gởi gắm những tâm sự, những trăn trở của mình về thế sự, về vận mệnh đất nước và dân tộc.
Tôi đã hiến trọn cuộc đời tôi cho Tổ quốc, cho Cách mạng và cho Thơ.
 
 
Nguyễn Duy
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Duy Nhuệ. Sinh ngày 7 tháng 12 năm 1948 tại xã Đông Vệ, Đông Sơn (nay là thành phố Thanh Hóa). Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Tuần báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam. Hiện thường trú tại: thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1973.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia công tác từ 1965, làm tiểu đội trưởng dân quân trực chiến khu vực Hàm Rồng – Thanh Hóa. Năm 1966: nhập ngũ tại Bộ Tư lệnh Thông tin, tham gia chiến đấu tại các chiến trường: Khe Sanh – Đường 9 – Nam Lào; Mặt trận phía Nam và phía Bắc (1979). Từ 1976: chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ 1977: là đại diện thường trú của tuần báo Văn nghệ tại các tỉnh phía Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: 13 tập thơ, 3 tập bút ký, 1 tiểu thuyết… Trong đó có các tập: Cát trắng (thơ, 1973); ánh trăng (thơ, 1984); Nhìn ra bể rộng trời cao (bút ký, 1985); Khoảng cách (tiểu thuyết, 1985); Mẹ và em (thơ, 1987); Đường xa (thơ, 1989); Quà tặng (thơ, 1990); Về (thơ, 1994).
* Giải thưởng văn học: Giải nhất thơ tuần báo Văn nghệ năm 1973. Tặng thưởng loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1985. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Khó, rất khó !
 
Thành Duy
Bút danh khác: Nguyễn Huy, Việt Hà
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Truy. Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1932. Quê quán: Thiệu Phú, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 96 Ngõ Giếng, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1979.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1957: sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Văn, làm công tác khoa giáo. 1959: về Viện Văn học, làm Thư ký tòa soạn tạp chí Văn học, Trưởng ban Lý luận. Từ 1982: sau khi đi thực tập khoa học tại Liên Xô, là Vụ trưởng Vụ TCCB Trung tâm Khoa học xã hội & Nhân văn quốc gia. Tiến sĩ ngữ văn. Phó giáo sư văn học. Từ 1990: chuyên viên nghiên cứu về lý luận văn học, văn hóa, tham gia nhiều chương trình, đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, về văn hóa và trí thức.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Văn học, cuộc sống nhà văn (viết chung, 1978); Về tính dân tộc trong văn học (lý luận, 1982); Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng, danh nhân văn hóa thế giới (chuyên luận, 1990); Văn hóa trong phát triển của xã hội Việt Nam (chuyên luận, 1996); Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh (chuyên luận, 1998); Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp xây dựng con người phát triển toàn diện (chuyên luận, 2001); Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh (nghiên cứu, 2004); Văn hóa đạo đức – mấy vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (nghiên cứu, 2004); Động lực dân tộc và thực tiễn sáng tạo văn hóa nghệ thuật (tuyển tập, 2004). Ngoài ra còn một số công trình viết chung và chủ biên.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Trong quá trình nghiên cứu văn học từ 1959 đến nay, tôi hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học, văn hóa. Là nhà văn không chỉ chuyên về văn học mà phải có tầm hiểu biết sâu về văn hóa dân tộc và nhân loại. Tôi đã suy nghĩ, học tập và viết theo hướng đó.
 
Lê An Dương
Bút danh khác: Chu Hà
Họ và tên khai sinh: Lê An Dương. Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1941. Quê quán: Đông Thái, An Hải, Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.. Hiện thường trú tại: quận Hồng Bàng, Hải Phòng. Vào Hội năm  1998.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1959-1969: phóng viên Đài Phát thanh Hải Phòng. 1970-1991: Công tác tại Sở Giao thông vận tải Hải Phòng.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Bóng người chân mây (thơ, 1989); áo trắng (thơ, 1991); Mùa thay lá (thơ, 1992)
 
Lưu Trùng Dương
Bút danh khác: Trần Hướng Dương,Trần Thế Sự
Họ và tên khai sinh: Lưu Quang Luỹ. Sinh ngày 5 tháng 5 năm 1930. Quê quán: phường Hoà Thuận, quận Hải Chân, TP Đà Nẵng.Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 118 Núi Thành, TP Đà Nẵng. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1957.
*   Vài  nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: ĐÃ trải qua các công tác: phóng viên mặt trận báo Vệ quốc quân Liên khu V, Thư ký toà soạn báo Quân đội nhân dân Liên khu V, Phó trưởng tiểu ban Văn nghệ Quân đội Liên khu V, biên tập viên tạp chí Văn nghệ quân đội, Trưởng đoàn Nghệ thuật Quân tình nguyện Việt Nam ở Lào, Phó trưởng phòng Phát thanh Quân Giải phóng miền Nam. Phó trưởng tiểu ban Văn nghệ miền Nam Trung Bộ, Uỷ viên thường vụ Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Trung Bộ, Phó chủ tịch thường trực, Bí thư Đảng đoàn Hội Văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng, Tổng thư ký Hội Văn nghệ TP Đà Nẵng.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Tập thơ của người lính (1949); Những người đáng yêu nhất (1960); Tình nguyện (1963); Nỗi nhớ màu xanh (1975); Trên đỉnh núi Thành ta hát (1983); Bài thơ tình về chim hải âu (1988); Thơ tặng anh bộ đội Cụ Hồ (1990, 1994, 2003); Bài ca người Đà Nẵng (2000); Tuyển tập thơ Lưu Trùng Dương (thơ- trường ca- truyện thơ- kịch thơ ngắn 2001); Lưu Trùng Dương – Thơ với tuổi thơ ( 2003). Tiểu thuyết: Họ đi tìm thiên đường (1988); Con đường sắt vô hình (2001); Chết rồi lại sống (2003); Bà chánh án mồ côi (truyện vừa, 2003); Huyện thoại ở Đak Xing (2003); Sống vì lý tưởng (ký sự, 2004); Lưu Trùng Dương (truyện và ký, 2006)…
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng loại A: cuộc thi thơ miền Nam Trung Bộ 1948 với Bài ca tự túc. – Giải thưởng văn học Phạm Văn Đồng, miền Nam Trung Bộ 1950-1951 (Tập thơ của người lính). Giải thưởng văn học loại A tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng (30 năm kháng chiến 1945-1975); Giải thưởng văn học loại A tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng (10 năm xây dựng hoà bình: 1975-1985). Giải thưởng của UBND thành phố Đà Nẵng (1998-2000): tiểu thuyết Con đường sắt vô hình, truyện phim Ba anh em khác màu da), Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội  VHNT Việt Nam năm 2001, tập thơ Bài ca người Đà Nẵng.
*  Suy nghĩ về nghề văn:  Tôi chẳng hề mong làm nên ngọc quý / Mà chỉ cầu làm ra hạt lúa củ khoai / Viết những bài thơ có ích cho đời…
 
Nguyễn Bạch Dương
Bút danh khác: Lê Trung Hiệp
(1944-2006)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Kim Dũng. Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1944. Quê quán: An Bình, Cao Lãnh, Đồng Tháp. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Vào Hội năm 2003. Mất ngày 11-12-2006 tại thành phố Hồ Chí Minh.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Thư ký toà soạn tạp chí Cửu Long của Hội Văn nghệ Vĩnh Long.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Sau cơn địa chấn (thơ, 1964); Hoàng (thơ, 1965); Thơ và tình em (thơ, 1987); Lặng lẽ vần thơ yêu em (thơ, 1991); Gió không mùa (thơ, 2000).
 
Nguyễn Thái Dương
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Thái Dương. Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1954. Quê quán: Đập Đá, Bình Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Thư ký toà soạn báo Mực tím. Hiện thường trú tại: phường 13, quận 10, TP Hồ Chí Minh. Vào Hội năm  2002.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Dạy văn từ 1980 đến 1984. Phóng viên báo Khăn quàng đỏ, Mực tím từ 1985 đến 1991. Thư ký toà soạn báo Mực tím từ 1992 đến nay.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: gồm các tập thơ: Bầu trời thơ, hạt bụi thơ (1987); Chút tình riêng thuở ấy (1988); Tàn trăng (1994); Cổ tích về quả banh (1994); Uốn khúc (2003).
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi thích chia sẻ với nỗi lung linh đang ngắn dần của ngọn nến. Tôi không chịu được niềm kiêu hãnh vì sự vẹn nguyên của cây đèn cầy không ánh lửa.
 
Thùy Dương
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Thị Dương. Sinh ngày 2 tháng 1 năm 1960. Quê quán: Thành phố Hải Dương. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó tổng biên tập báo Diễn đàn doanh nghiệp. Hiện thường trú tại: Số 2 Linh Lang, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm  2001.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm năm 1980. Từng là phóng viên báo Hải Hưng, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Hải Hưng, Tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du (khoá 4). Hiện công tác tại báo Diễn đàn doanh nghiệp.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Trong hộp kẹo (tập truyện ngắn thiếu nhi, 1987); Tam giác muôn đời (tiểu thuyết, 1992); Nước mắt chàng khổng lồ (tập truyện ngắn, 1994); Mưa thiếu nữ (tập truyện ngắn, 1997); Những người đàn bà đang sống (tập truyện ngắn, 2000); Truyện ngắn Thùy Dương (tập truyện ngắn, 2003); Ngụ cư (tiểu thuyết, 2004).
*  Giải thưởng văn học: Giải ba cuộc thi truyện ngắn báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh 1997. Giải C cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1999-2001. Giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Thiếu niên tiền phong, 2002. Giải B cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2002-2005.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Viết văn là sự tự thể hiện mình và đi tìm sự đồng cảm.
 
 
Trần Hoài Dương
Họ và tên khai sinh: Trần Bắc Quỳ. Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1943. Quê quán: thành phố Hải Dương. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 56/38 Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh. Vào Hội năm 1979.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Tốt nghiệp hạng ưu Trường Báo chí Trung
ương khoá I năm 1961,  về công tác tại tạp chí Học tập
(nay là tạp chí Cộng Sản) làm biên tập viên đến năm 1968. Từ 1969-1970 đi thực tế ở Trường giáo dục trẻ em phạm pháp của Bộ Giáo dục. Từ 1971-1981: làm ở báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, là biên tập viên, sau đó phụ trách Ban Văn xuôi. Từ 1982-1992: công tác tại nhà xuất bản Măng Non sau chuyển thành Nhà xuất bản Trẻ, là trưởng ban văn học. Từ 1992 đến nay là nhà văn tự do.  Chuyên viết cho thiếu nhi từ đầu những năm 1960.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Em bé và bông hồng (tập truyện ngắn, 1963); Đến những nơi xa (tập truyện ngắn,1968); Cây lá đỏ (tập truyện ngắn, 1971); Cuộc phiêu lưu của những con chữ (tập truyện ngắn, 1975);Con đường nhỏ (tập truyện ngắn, 1976); Hoa của biển (truyện dài, 1976); Người tù vượt ngục và em nhỏ trên đảo (truyện dài, 1979); Lá non (tập truyện ngắn, 1981); áng mây (tập truyện ngắn, 1981); Bên ngoài mái trường (tiểu thuyết, 1983); Những ngôi sao trong mưa (tập truyện ngắn, 1988); Mầm đước (truyện dài, 1994); Nhớ một mùa hoa thạch thảo (tập truyện ngắn, 1994); Cô bé mảnh khảnh (truyện ngắn chọn lọc, 1996); Nắng phương Nam (tập truyện ngắn, 1998) Trần Hoài Dương – Truyện ngắn chọn lọc (1998); Hoa cỏ thì thầm (1999); Miền xanh thẳm (truyện dài, 2000); Tuyển tập Trần Hoài Dương (2000); Trần Hoài Dương – Truyện chọn lọc (2006). Ngoài ra còn viết kịch bản phim hoạt hình và kịch bản múa rối cho thiếu nhi, trong đó đã có 5 kịch bản được dựng thành phim.
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Uỷ ban thiếu niên và nhi đồng Trung ương năm 1968 với tác phẩm Cuộc phiêu lưu của những con chữ. Giải thưởng loại B (không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001 với tác phẩm Miền xanh thẳm. Và nhiều giải thưởng khác.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Tôi gắng chắt lọc từ cuộc sống ngổn ngang bề bộn những gì tinh túy nhất, trong ngần nhất để viết cho các em.
Tôi đến với văn học thiếu nhi như đến với một thứ Đạo. Viết là để đem lại lòng yêu thương và vẻ đẹp tuyệt vời của văn chương cho trẻ nhỏ.
Tôi cũng hy vọng những trang viết của tôi không chỉ dành riêng cho trẻ em đọc mà còn cho tất cả những ai muốn tìm lại tuổi thơ đã mất của mình, những ai muốn có những giây phút sống yên bình trong thế giới trắng trong của cái Đẹp và cái Thiện…
 
Hoàng Dự
Bút danh khác: Minh Vũ, Vũ Hoàng
Họ và tên khai sinh: Hoàng Văn Dự. Sinh ngày 7 tháng 5 năm 1957. Quê quán: Yên Khang, ý Yên, Nam Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Tổng biên tập báo Thể thao Việt Nam. Hiện thường trú tại: Nhà A3 khu tập thể Bộ Công An, ngõ 102 Nguyễn Huy Tưởng, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2005.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1972 đi bộ đội, thuộc binh chủng thiết giáp. 1974 đi B, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. 1978 chuyển ngành về làm báo tại trung ương Đoàn. 1979-1984: học đại học báo chí tại Trường Tuyên huấn TƯ. Làm báo chuyên nghiệp, từng giữ các chức vụ: Trưởng phòng phát thanh thanh niên, Phó trưởng ban biên tập phát thanh truyền hình TƯ Đoàn, Giám đốc Trung tâm Truyền hình Thanh niên, Tổng biên tập báo Thanh niên thời đại, hiện là Tổng biên tập báo Thể thao Việt Nam. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Nợ đời (tiểu thuyết, 2001, tái bản 2003, 2004); Sống vì người đã chết (tập truyện ngắn, 2004).
*  Suy nghĩ về nghề văn: Cuộc sống vận động không ngừng trong dòng chảy của thời gian và thân phận của con người thông qua vận động mà bộc lộ những phẩm chất, những tình cảnh để nhà văn phản ánh, khắc hoạ. Tôi luôn quan tâm đến số phận con người trong tác phẩm của mình.
 
Nguyễn Khắc Dực
(1917-1973)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Khắc Dực. Sinh năm 1917. Quê quán: xã Tống Bạt, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây. Nhiều năm hoạt động sân khấu. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam  (1957). Mất năm 1973.
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng loại Ba của Hội Văn nghệ Việt Nam (1951-1952) với truyện ngắn Mở nông giang. Giải thưởng loại Ba của Hội Văn nghệ Việt Nam (1954-1955) với tác phẩm Tiếng hát người Dao (kịch bản chèo).
  

Vần Đ
 

Vân Đài
(1903-1964)
Họ và tên khai sinh: Đào Thị Minh. Sinh ngày 19 tháng 1 năm 1903. Quê quán: Hà Nội. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 31 tháng 12 năm 1964 tại Hà Nội.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Làm thơ từ thời kỳ Thơ mới đăng trên các báo Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phong hóa, Ngày nay, Tinh hoa, Đàn bà, hầu hết làm theo thể Đường luật. Gia nhập bộ đội ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Từ 1954: công tác ở các báo Phụ nữ Việt Nam, Văn học; tham gia Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Hương xuân (thơ, in chung, 1943); Về quê mẹ (thơ, 1960); Mùa hái quả (thơ, 1966).
 
 
Hồ Khải Đại
Bút danh khác:Hồ Nam
Họ và tên khai sinh: Hồ Xuân Đài. Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1926. Quê quán: Nam Trung, Nam Đàn, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 62 phố Mai Dịch, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1957.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Đi bộ đội từ 1950. Làm báo quân đội từ 1950. Là đại úy chuyển ngành, chủ nhiệm bộ môn Triết học, trưởng phòng Chính trị trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Việt Nam (1979-1987), hiện nghỉ hưu.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ chiến sĩ (1956); Cây xuân (thơ in chung, 1962); Mạch đường (1974); Quê hương đồng đội (thơ, 1980); Hương xã Nam Trung (tập ký lịch sử, 1996); Mặt trời lãng tử (thơ in chung, 2002).
* Giải thưởng văn học: Giải ba Hội Văn nghệ Việt Nam trao cho tập Thơ chiến sĩ năm 1955.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tập Thơ chiến sĩ ra đời (thời ấy nhiều người mù chữ) được coi như một “hiện tượng văn học” cổ vũ người lính cầm bút. Các nhà văn đàn anh cổ vũ dìu dắt tôi, đặc biệt là nhà thơ Xuân Diệu.
Tôi tự biết mình sống, chiến đấu, học tập, viết “lấy cần cù bù thông minh”. Từ tự phát đến tự giác. Tập Cây xuân như bước thể nghiệm về nghề văn lại có nhiều chiến hữu, văn hữu cổ vũ tôi bước tiếp. Tình yêu người lính và nhà thơ luôn trăn trở trong tôi. Tôi yêu người lính mà chưa có bản hùng ca, tôi yêu thơ hay mà viết chưa hay.
Tập Quê hương đồng đội viết vội ở chiến trường ra đời thời bao cấp, may thời chiến tranh đã được nhiều bạn đọc ưa thích một số bài. Tập thơ Mặt trời lãng tử khá hơn trước. Tôi còn nhiều duyên nợ văn chương.
Nhà thơ đẹp ở nhân cách và tài năng, tôi mong ước nhưng không buồn vì không vươn tới ánh hào quang, chỉ buồn là không viết được điều mới mẻ.
Văn chương hay là tinh hoa “tính trời – nết đất – tình người” là “người yêu thủy chung của cuộc sống vĩnh cửu”.
 
Nguyễn Sĩ Đại
Bút danh khác: Nguyễn Hoàng, Tảo Thanh

Họ và tên khai sinh: Nguyễn Sĩ Đại. Sinh ngày 1 tháng 5 năm 1955. Quê quán: làng Đông Tây, xã Phú Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó trưởng ban Nhân Dân cuối tuần, báo Nhân Dân. Hiện thường trú tại: nhà 50B, ngõ 154 Đội Cấn, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1999.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1972 trúng tuyển Đại học tổng hợp Văn, học đến năm thứ ba thì nhập ngũ, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tham gia chiến tranh biên giới phía Tây và phía Bắc. Sau khi tốt nghiệp Đại học, về công tác tại báo Nhân Dân đến nay, thường xuyên đi thực tế đến mọi miền đất nước, vừa làm báo, vừa viết văn. Tiến sỹ văn học.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Nơi em về (thơ, 1990); Trái tim người lính (thơ, 1998); Đường chân trời (thơ, 2004); Những đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường (nghiên cứu, 1996.
* Suy nghĩ về nghề văn: Nếu có ai đó vẫn nói rằng văn học chỉ là công việc riêng, là sự thoả mãn cái tôi cá nhân thì không phải tôi không tin mà vì nó đã bị bác bỏ, bị vượt qua từ lâu.
…Bất cứ nền văn học nào, giai đoạn văn học nào cũng phiến diện khi ta soi vào đó cái nhìn phổ quát và từ độ lùi lịch sử. Nhưng đó chính là chỗ để nó luôn tự phát triển tự hoàn thiện. Không có sự phủ nhận. Chỉ có sự bổ sung. Không phải cứ sau thì hay hơn trước.
Có người nói văn học Việt Nam chậm phát triển, không qua và vì không tuần tự qua các chủ nghĩa, các phương pháp sáng tác. Tôi cho rằng văn học Việt Nam lâu đời, có một chủ nghiã bền vững và ngày càng quý giá-đó là chủ nghĩa yêu nước,chủ nghiã yêu người. Văn học Việt Nam không suy đồi vì nhân vật trung tâm của nó không phải ma quỷ, bóng tối mà là ánh sáng, là con người chan chứa yêu thương và trách nhiệm.
Giá trị của một tác phẩm, trước hết và sau hết là làm cho lòng người khoan dung hơn, yêu thương hơn, hy vọng hơn.

 
Anh Đào
Họ và tên khai sinh: Đào Thị Kim Anh. Sinh ngày 11 tháng 11 năm 1962. Quê quán: Thái Hiệp Thạnh, Tây Ninh. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: Xã Vĩnh Hoà Hiệp, Châu Thành, Kiên Giang. Vào Hội năm 1997.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Rong biển (tiểu thuyết, 1995); Bạn cùng xóm (truyện vừa, 1998); ước gì được nấy (truyện dài, 2003); Con nít vùng ngập lũ (truyện ngắn, 2003, tái bản 2004); Một bước lên trời (tiểu thuyết, 3 tập, 2004); Lá bài số mệnh (tiểu thuyết, 2004).
* Giải thưởng văn học: Tặng thưởng truyện ngắn hay báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, 2002. Giải khuyến khích Nxb Kim Đồng 2003.
* Suy nghĩ về nghề văn: Khi tôi còn sáng tác là tôi còn muốn sống.
 
 
Đặng Anh Đào
Họ và tên khai sinh: Đặng Anh Đào. Sinh ngày 7 tháng 12 năm 1934. Quê quán: Thanh Chương, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1993.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Dạy học từ cuối những năm 1950. Hiện là Phó Giáo sư, chuyên dạy về văn học Pháp ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Nhà giáo ưu tú.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Tài năng và người thưởng thức (nghiên cứu, phê bình, 2001); Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (nghiên cứu, phê bình, 2001); Thế kỷ ánh sáng (dịch chung, 1986); Tuyển tập truyện ngắn Pháp thế kỷ XIX (2 tập, 1988); Victo Huygô với chúng ta (nghiên cứu, viết chung, 1985); Victo Huygô ở Việt Nam (nghiên cứu, viết chung, 1985); Văn học phương Tây (2 tập, viết chung, 1986-1995); Lịch sử văn học Pháp thế kỷ XIX và XX (2 tập, viết chung, 1980-1992); Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam (viết chung, 1990); Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù” (viết chung, 1990); Tấn trò đời (dịch chung, 1999-2001); Mưa rào mùa hạ (truyện vừa); Tầm xuân (hồi ký, 2005); Một số truyện ngắn đăng tải trên báo Văn Nghệ, Nhân Dân…
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi yêu thích truyện ngắn và tiểu thuyết, ham đọc truyện trinh thám.
Trong phê bình văn học, tôi thích hướng về một không khí cởi mở, thẳng thắn, khoa học và bình đẳng.
 
Phạm Viết Đào
Họ và tên khai sinh: Phạm Viết Đào. Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1952. Quê quán: Cát Văn, Thanh Chương, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Thanh tra Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch. Hiện thường trú tại: Nhà số 2, hẻm 39 ngách 7, ngõ 460 Thuỵ Khuê, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2006.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sau khi tốt nghiệp Đại học tại Rumani, từng làm biên tập viên Fafilm, rồi chuyên viên Vụ Điện ảnh. Hiện là Trưởng phòng Thanh tra Hành chính và Chống tham nhũng- Bộ Văn hoá- Thể thao và Du lịch.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ tình Mihai Eminescu (tuyển dịch, 2000); Tình yêu hoang dã (tiểu thuyết dịch, 2001); Vết máu biết nói (thơ dịch, 2002); Trở lại bến xưa (tiểu thuyết dịch, 2003); Châm ngôn văn học (dịch, 2004); 75 bài thơ tình tuyệt bút Rumani (tuyển dịch, 2005); Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (dịch sang tiếng Rumani, 2006); Thao thức với thời gian (tuyển thơ viết bằng tiếng Rumani của Phạm Viết Đào và thơ dịch sang tiếng Rumani của 30 tác giả Việt Nam, 2006).
Các giải thưởng quốc tế đã nhận:
– Huân chương Mihai Eminescu do Tổng thống Rumani tặng cho các đóng góp về việc dịch và giới thiệu Danh nhân văn hoá thế giới Mihai Eminescu tại Việt Nam năm 2000;
– Giải đặc biệt của Hội Nhà văn Bucarest-Rumani về các đóng góp: Dịch và giới thiệu văn học Rumani tại Việt Nam năm 2005;
– Giải đặc biệt cuộc thi tìm hiểu lịch sử-văn hoá Trung Quốc Cup Giai Lệ do Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc trao năm 1992.
* Suy nghĩ về nghề văn: Văn học là “con kênh xanh” mà nhà văn dồn dốc vào đó những điều tâm huyết, trải nghiệm của cuộc đời mình, trái tim mình. Nhà văn là người nuôi hy vọng có thể dùng ngòi bút sẻ chia những giá trị vô hình đang chất chứa trong lòng mình với đồng loại. Nhà văn được người đọc ghi nhận khi tự mình diễn đạt được minh xác và chân tình lên trang viết những điều mình nung nấu tâm can. Sự sẻ chia bằng văn chương là một trong những cách để con người đồng cảm với nhau, thương yêu quý trọng nhau để cùng nhau tìm cách xa lánh cái xấu và cái ác đang dày vò nhân loại. Nhưng nhân loại đến một lúc nào đó nếu không còn điều xấu và kẻ ác thì thiết nghĩ ngòi bút của nhà văn chẳng còn biết làm gì?!
Viết văn, làm thơ, dịch văn học đều có chung cái đích đó! Vì chưng hay ghét cũng là hay thương…
Văn học là “tiếng tơ lòng” của từng cá nhân nhưng khi nó được cất lên thì rất không ít trường hợp nó trở thành “tiếng tơ lòng” của cả một dân tộc, của cả một thời đại. Độ ngân rung của nó khởi nguồn từ trong chiều sâu của tâm hồn nhà văn bao nhiêu nó có khả năng vang hưởng rộng xa bấy nhiêu…
 
Linh Nga NiêkĐăm
Bút danh khác: H’Linh Niê, Vân Ly ê Ban
Họ và tên khai sinh: Tuyết Nga Niêkđăm. Sinh ngày 8 tháng 8 năm 1948. Quê quán: Xã Ea Pôk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk. Dân tộc: Êđê. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Hội Văn nghệ tỉnh Đăk Lăk. Hiện thường trú tại: phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1997.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Hoạt động âm nhạc từ năm 1965. Tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội. Biên tập Văn nghệ phát thanh từ 1988 đến 2002 tại Tây Nguyên. Nhiều năm là Uỷ viên BCH Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (khoá II đến khoá V), Uỷ viên BCH Hội Nhạc sĩ Việt Nam khoá VI; Phó Tổng thư kí Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam khoá I, II, III. Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Đăk Lăk.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Huyền thoại sau cánh rừng (tập ca khúc và băng, 1996); Con rắn màu xanh da trời (tập truyện ngắn, 1997); Vài nét đặc trưng phong tục các DTTS Tây Nguyên (1997); Trăng Xí Thoại (tập bút ký, 1998); Đăm san thời thơ ấu (trường ca Êđê, 1999); Nàng Bia Lúi (trường ca Bânar, 2000); Truyền thuyết núi Nậm Nung (trường ca Mnông, 2001); Huyền thoại cây Tông Lông (trường ca Êđê, 2002); Văn hoá dân gian Tây Nguyên, một cách nhìn (2002); Đi tìm hồn chiêng (tập bút ký, 2003); Chân dung Văn nghệ sĩ Tây Nguyên (2003); Gió đỏ (tập truyện ngắn, 2004).
* Giải thưởng văn học: Giải bút ký hay năm 1994 của Đài Tiếng nói Việt Nam; Giải B (không có giải A) của Hội Văn nghệ các DTTS Việt Nam năm 1998. Giải B của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2003, Giải C Hội Văn nghệ các DTTS Việt Nam năm 1998.
* Suy nghĩ về nghề văn: Viết văn quả là một nghề nhọc nhằn, khó khăn. Viết về đề tài dân tộc và miền núi lại càng khó hơn. Làm sao cho cộng đồng thiểu số của mình chấp nhận, mà người đọc chung cũng chấp nhận và hiểu đúng không chỉ cuộc sống ở Tây Nguyên, mà còn cả phong tục tập quán, cách nghĩ, cách nói…? Có biết bao nhiêu đề tài nóng bỏng về Tây Nguyên vẫn chưa được đề cập tới, mình lại lực bất tòng tâm, không diễn đạt nổi. Nó day dứt như là mắc một món nợ với cộng đồng mà đến hết đời vẫn không trả được.
 
 
Vũ Đảm

Bút danh khác: Vũ Năng Tĩnh
Họ và tên khai sinh: Vũ Như Trừ. Sinh ngày 10 tháng 2 năm 1966. Quê quán: Vũ Hội, Vũ Thư, Thái Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Tạp chí Thanh niên. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2003.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1993-1997 học viên khoá V Trường viết văn Nguyễn Du. 1997 đến nay làm biên tập tại tạp chí Thanh niên. Năm 2005 bảo vệ luận văn Thạc sĩ văn hoá học. Bắt đầu sáng tác từ năm 1987, năm 1991 in tiểu thuyết đầu tay tại Nxb Thanh Niên.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Các tập truyện ngắn: Lão Phích (1992, 2002), Người trong cuộc (1996), Hồi sinh (1999), Ông Gióng của Bà (2000),  Xe người và xe trâu (2003), Khoảnh khắc của chiến tranh (2005), Lệnh bà (2006). Tiểu thuyết: Nước mắt đêm (1991); Chuyện ở đời (1992, 2003); Tiền ơi (1993, 2002). Hãy về với anh (1993); Dâng hiến (1993); Mặt trời đêm (2001). Phóng sự: Học làm trưởng giả (1998).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Cuộc thi truyện ngắn tạp chí Sông Hương 1998-2000. Giải thưởng tiểu thuyết Cuộc thi ký và tiểu thuyết của Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam 1999-2001. Giải thưởng Cuộc thi truyện ngắn của Nxb Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam 2004-2006.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Mỗi dân tộc đều trường tồn nhờ Văn hoá. Văn chương góp phần làm cho văn hoá thêm phát triển. Nhà văn cũng chính là nhà văn hoá vậy.
 
Trần Thanh Đạm
Họ và tên khai sinh: Trần Thanh Đạm. Sinh năm 1932. Quê quán: xã Lộc Thuỷ, huyện Phúc Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1996.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1949 tham gia kháng chiến đồng thời cũng bắt đầu viết văn rồi chuyển sang nghiên cứu phê bình và chuyên tâm với nghề dạy học. Nguyên là Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (1975-1983), chủ nhiệm bộ môn Văn học thế giới khoa Ngữ văn và báo chí trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Hội đồng Lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam khoá 6 (2000-2005)
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (lý luận, 1968); Tục ngữ và vấn đề nguồn gốc văn chương (chuyên luận); Dẫn luận văn học so sánh (chuyên luận); Sự chuyển tiếp của văn chương Việt Nam sang thời kỳ hiện đại (chuyên luận).
* Giải thưởng Văn học: Giải nhất Hội Văn nghệ Thừa Thiên năm 1950.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi thấy mình là kẻ kém tài. Nếu có gì đáng kể chẳng qua là chút học vấn văn chương tích luỹ được qua nhiều năm tháng, cộng với lòng yêu say, ý thức được sứ mệnh cao cả của văn học Việt Nam đối với dân tộc ta hôm nay và ngày mai. Tôi sẽ phấn đấu đóng góp phần nhỏ bé của mình cho hoạt động của Hội và cho nền văn học nước nhà trong giai đoạn lịch sử nhiều vận hội và thử thách hiện nay
 
 
Nguyễn Đức Đàn
Bút danh khác: Việt Trung Liên, Hoàng Nguyễn
(1928-1997)
Họ và tên khai sinh Nguyễn Đức Đàn. Sinh ngày 2 tháng 2 năm 1928. Quê quán: xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1968). Mất ngày 2-12-1997.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Xuất thân trong một gia đình Nho giáo yêu nước. ĐÃ học qua các trường Sư phạm cao cấp, đại học Sư phạm (Văn khoa) và thực tập ở Liên Xô (1962-1963).
Tham gia Cách mạng từ 4-1945, đảm nhiệm chức trách Bí thư Việt Minh xã. Từ đó đến nay đã kinh qua nhiều công tác: Đoàn, Đảng, Tuyên huấn, dạy học, nghiên cứu văn học, Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu nghệ thuật (Bộ Văn hoá), Hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Quan âm Thị Kính (nghiên cứu, giới thiệu, chú giải, 1957); Ngô Tất Tố (chuyên khảo, viết chung, 1962); Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam (30-45) (nghiên cứu, tuyển chọn, 1963); Văn học hiện thực Việt Nam (chuyên khảo, 1968); Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam (giai đoạn 1930-1945) (nghiên cứu, viết chung, 1964); Thơ ca cách mạng Việt Nam (nghiên cứu, tuyển chọn, 1973); Từ điển Tác giả thế giới (nghiên cứu, in chung, 1982); Các trào lưu, trường phái kịch phương Tây (nghiên cứu, 1984); Hành trình Văn học Mỹ (chuyên khảo, 1996); Họ không cô độc (tiểu thuyết, dịch, 1960).
 
 
Phan Minh Đạo
Bút danh khác: Bồng Sơn, Trung Nghĩa
Họ và tên khai sinh: Phan Minh Đạo. Sinh ngày 1tháng 1 năm 1930 Quê quán: xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 221/1 Thủ Khoa Huân, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1977.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia Việt Minh từ tháng 5 năm 1945. ĐÃ qua các công tác đồ bản, quân giới trong kháng chiến chống Pháp. Từ 1955- 1960 phóng viên báo Lao Động. 1961- 1975 cán bộ tuyên huấn khu VI. Từ 1975- 1992 Giám đốc Sở Văn hoá, Phó chủ tịch UBND sau đó là Uỷ viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thuận Hải. Từ 1993-1996 là Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Thuận. Năm 1996 về hưu.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: ý thơ (thơ, 1948); Khu 6 yêu thương (thơ, 1980); Tiếng tơ lòng (thơ, 2001); Nhà thơ và cuộc sống;  và nhiều tác phẩm bút ký, ghi chép đăng trên các báo TƯ và địa phương.
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng UBTQ Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập Nhà thơ và cuộc sống. Giải thưởng 25 năm Văn học Khánh Hoà.
* Suy nghĩ về nghề văn: ở nước ta trước đây có nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng với nhiều tác phẩm được bạn đọc trong và ngoài nước hâm mộ.
Hiện nay, trên con đường đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nước ta tiếp tục sản sinh nhiều nhà văn, nhà thơ giỏi với nhiều tác phẩm được bạn đọc trong nước ca ngợi.
Đó là cái vốn rất quý của nền văn học nước nhà. Riêng tôi tuổi cao, sức viết hạn chế, nhưng vẫn cố gắng tham gia Công trình khoa học Địa chí Bình Thuận, soạn thảo xong cuốn Phan Thiết: những dấu ấn lịch sử không thể nào quên và đang viết tập hồi ký Những mẩu chuyện sâu sắc trong đời.
 
Trần Quang Đạo
Họ và tên khai sinh: Trần Quang Đạo. Sinh ngày 25 tháng 2 năm 1957. Quê quán: Phú Hòa, Phú Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó Tổng biên tập báo Nhi đồng. Hiện thường trú tại: 16 Tô Tịch, phường Hàng Gai, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2001.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Nhập ngũ 19/2/1975 trong đợt Tổng động viên chiến dịch mùa xuân 1975. Từ 1975-1980: chiến đấu, phục vụ chiến đấu và xây dựng kinh tế ở Bình Trị Thiên, Tây Bắc, Việt Bắc. Tốt nghiệp đại học, Thạc sĩ ngữ văn tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, dạy học ở Quân chủng không quân. Năm 1989: ra quân. Từ 1989 đến nay làm ở báo Nhi đồng, Thời trang trẻ.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Mối tình chưa hôn lễ (tiểu thuyết, 1990); Luân khúc (thơ, 1991); Đêm ảo ảnh (tiểu thuyết, 1993); Những đứa con của Trời (truyện vừa, 1997); Vòng tay cỏ (thơ, 1998); Ngọn cỏ thời yêu nhau (thơ, 2001); Khúc biến tấu xương rồng (thơ, 2004).
* Giải thưởng văn học: Giải C cuộc thi thơ 1983-1984 của tạp chí Văn nghệ quân đội. Giải khuyến khích thi thơ năm 1993-1994 của tạp chí Văn nghệ quân đội. Tặng thưởng thơ hay năm 1995 của tạp chí Văn nghệ quân đội. Giải nhì cuộc thi truyện Nhà xuất bản Kim đồng năm 1997 (với tác phẩm Những đứa con của Trời).
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi viết văn, làm thơ mong làm được như mạ tôi dần, sàng gạo và sảy thóc. Đôi bàn tay thô ráp của mạ tôi đã rất điêu luyện khi dần, sàng để cám, tấm và gạo mỗi thứ tách bạch một nơi. Đặc biệt, những hạt thóc, hạt sạn, bằng một cách nào đó bà đã loại ra qua các thao tác thuần thục đến mức nghệ thuật. Và khi sảy thóc cũng vậy, mạ tôi đã loại hạt lép và sạn ra, chỉ còn lại những hạt thóc vàng óng, phần để nuôi con, phần dành để làm giống cho vụ mùa sau.
Viết tôi chú trọng đến chữ, nó như thóc giống. Tôi dần, sàng, sảy nó trên chiếc dần, chiếc sàng ý tứ và tư tưởng. Tôi ước mong những chữ mà tôi viết ra nảy mầm trong lòng bạn đọc. Điều đó nhiều khi không tưởng. Nhưng “đã mang lấy nghiệp vào thân” thì văn, thơ chính là nơi ký thác cuối cùng của tâm hồn mình.
 
 
Đoàn Văn Đạt
Họ và tên khai sinh: Đoàn Văn Đạt. Sinh ngày 30 tháng 4 năm 1953. Quê quán: Núi Sam, Châu Đốc, An Giang. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Chi hội phó Chi hội Văn nghệ huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Hiện thường trú tại: Vĩnh Thạnh Trung, Châu Phú, An Giang. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2002.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ tháng 5/1975 công tác ở Phòng Văn hoá thông tin Châu Phú. Từng làm nhiều công việc mưu sinh, học qua lớp phóng viên Trường Tuyên huấn Trung ương.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Đệ tử ruột (tập truyện, 1996); ác mộng đàn bà (tập truyện, 2000).
* Giải thưởng văn học: Giải A cuộc thi truyện ngắn An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 1994. Giải nhất cuộc thi truyện ngắn An Giang và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, 1998.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi là nhà văn ư? Vậy thì tôi giống những ai đây?
Giống tu sĩ, muốn thành chánh quả thì không thể mượn hoặc mướn người khác tu giùm.
Giống người đạp xe lôi, không thể vứt bỏ cái thùng phía sau. Muốn vươn tới, chỉ có cách là phải guồng mạnh.
Giống nhà nông, phải khó nhọc mới có thu hoạch
Có điều, nhà văn thường gặp thiên tai địch hoạ. Cả đời mải miết may mới được một mùa bội thu, đủ cho mình yên lòng nhắm mắt xuôi tay.
 Ngược lại, nếu tôi là tu sĩ, người đạp xe, người làm ruộng… thì tôi có nét gì giống nhà văn đây?
 
 
Hữu Đạt

Bút danh khác: Hà Hữu Đạt, Văn Tuệ Quang
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu Đạt. Sinh ngày 21 tháng 4 năm 1953. Quê quán: Phú Cường, Ba Vì, Hà Tây. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó chủ nhiệm bộ môn Việt ngữ học, Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học KHXHNV – Đại học Quốc gia Hà Nội. Hiện thường trú tại: số 56 tổ 3, Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1997.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp khoa Ngữ văn ĐHTH (cũ), khoá 16, làm giảng viên tại khoa Ngữ văn đến khi thành lập khoa Ngôn ngữ học 1996. Giảng dạy tại khoa Ngôn ngữ học. Năm 1988 làm luận án tiến sỹ tại Nga. Từng làm chuyên gia tại Campuchia. Từng thỉnh giảng tại Đại học Paris VII năm 1997. Phó giáo sư.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Dưới cờ đại nghĩa (ca kịch, 1979); Chuyện thường ngày ở huyện (kịch nói,1980); Vì tôi yêu (kịch, 1981); Tình ca cao nguyên (kịch, 1982); Ngọn lửa tình yêu (tiểu thuyết, 1987); Tiếng gọi vùng đất chết (tiểu thuyết, 1990); Hai đầu của bức thư tình (tiểu thuyết, 1991); Các con đại tá (tiểu thuyết, 1997); Phía sau giảng đường (tiểu thuyết, 1997); Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật (lý luận phê bình, 1997);  Phônna Kyry (tiểu thuyết, 1999); Tuổi yêu (tập truyện, 1999); Về một cách tiếp cận văn học (lý luận phê bình, 2000); Phong cách với lý luận phê bình văn học… (lý luận phê bình, 2002); Chuyện người mình ở nước Nga (tiểu thuyết, 2002); Dòng xoáy cuộc đời (tiểu thuyết, 2003); Những kẻ giấu mặt (tiểu thuyết, 2004; Hồi ức tuổi mười ba (tập truyện, 2004); Cổng trường thời mở cửa (kịch bản phim truyện, 2005); Cổng trường thời mở cửa (tiểu thuyết, 2006); Những kẻ giấu mặt (kịch bản phim dài tập, 2006); Văn khoa chân dung ký (ký, 2006);
* Giải thưởng văn học: Được giải thưởng thơ (trong chùm giải A) 15 năm ngày thành lập Hội Thanh niên Việt Nam.
* Suy nghĩ về nghề văn: Đó là một nghề khó nhọc, vinh quang ít mà gian khổ lại nhiều. Ai không có lòng nhẫn nại sẽ sớm chia tay với nó.
 
Lê Đạt

( 1929-2008)
Họ và tên khai sinh: Đào Công Đạt.  Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1929 tại Yên Bái (bến Âu Lâu sông Hồng). Quê quán: xã A Lữ, Bắc Giang. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: Số 9 Lãn Ông, Hà Nội. Vào Hội năm 1957.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn học từ đó cho đến nay.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Bài thơ trên ghế đá (thơ, 1955); Ngó lời (thơ, 1991); Bóng chữ (thơ, 1994); Hèn đại nhân (truyện ngắn, 1994).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Kiên trì học và lao động tiếng Việt.
Một người viết không nên tham lời, nên dành cho tác phẩm nói. Không nên về hưu quá sớm trong sáng tác.
Một nhà văn tự trọng nên bận tâm đến việc “thành nhân” hơn “thành danh”.
Tất Đạt
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Tất Đạt. Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1933. Quê quán: xã Giáp Tứ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Vào Hội năm 1974.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia quân đội 8 năm, có trình độ Đại học. Từng là Trưởng ban sáng tác Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Đêm mưa (Nhà hát kịch); Tàu đêm (Trường Sân khấu);Sóng nước cuộc đời (đoàn kịch Điện ảnh); Đất ngọt (Nhà hát thiếu nhi); Tình yêu của anh (Văn công quân đội); Đàn én vào xuân (Văn công quân đội); Bài ca Điện Biên (Nhà hát kịch); Đừng vội hát tình ca (Văn công quân đội); Màu xanh mái tóc (Nhà hát Trần Hữu Trang); Soi bóng (Văn công Thái Bình); Vỡ mộng thiên đường (Văn công Thái Bình); Lý Thân và công chúa họ Tần (Đoàn tuồng Trung ương, Cải lương Chuông Vàng); Bình minh đó, trái tim anh (Đoàn kịch Hà Nội);Đỉnh cao mơ ước (Nhà hát Tuổi trẻ); Hoàng tử học nghề (Nhà hát Tuổi trẻ); Mười đoá phong lan (Đoàn kịch Tổng cục Chính trị); Ông thánh sinh đôi (Cải lương Hoa Mai); Vợ chồng rởm, Cố đấm (đoàn kịch Hà Nội); Ngày mai hắn chết (Đoàn cải lương Trung ương); Suối mơ (Văn công quân đội); Em đẹp dần trong mắt anh (Đoàn kịch nói Hà Nội); Ngoài ra là: Rồi sao nữa, Đàn chim xây giếng giữa trời, Vờ ly dị hoá thật, Già kén,  Vỡ mộng thiên đường, Chén rượu phù hoa, Tỉnh rượu lúc tàn canh, Trong trắng cao nguyên…
* Giải thưởng Văn học: Giải thưởng Bộ Quốc phòng; giải thưởng Hội Nhà văn cho vở Bài ca Điện Biên, 7 huy chương vàng hội diễn toàn quốc cho các vở Đỉnh cao mơ ước; Mười đoá phong lan; Rồi sao nữa; Già kén; Vàng một bên; em một bên; Ông thánh sinh đôi; Vợ chồng rởm. Giải thưởng cuộc thi kịch bản sân khấu nhỏ của Hội Nghệ sĩ sân khấu cho vở Đời người, giấc mộng. Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.
 
 
U Đa

(1920 – 1976)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Đua. Sinh ngày 28 tháng 2 năm 1920. Quê gốc, xã Tiền Cần, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 1957. Mất ngày 7-8-1976.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác Tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ. Tập kết ra Bắc về làm biên kịch và đạo diễn ở Xưởng phim quân đội.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: kịch bản phim Lá cờ chuẩn.
 
 
Văn Đắc
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Tiến Tới. Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1942. Quê quán: Quảng Tường, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hoá. Hiện thường trú tại: Thành phố Thanh Hoá. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1991.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Học liên tục lên Đại học. Học giỏi toàn diện, yêu thích văn chương. Sáng tác từ lúc còn học phổ thông, lên Đại học có thơ in. Năm 1974 học lớp bồi dưỡng viết văn Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1978 chuyển sang sáng tác chuyên nghiệp. Thơ là chính, ngoài ra viết truyện, ký, kịch thơ, giới thiệu phê bình văn học.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Hai triền sông (thơ, 1973); Khúc hát từ một nước (trường ca, 1979); Biển xanh (thơ, 1985); Ngai vàng rung chuyển (kịch thơ, 1990); Muộn mằn (thơ, 1990); Đi tìm thời trẻ trai (thơ, 1994); Trái tim dọc đường (thơ, 2000); Lời cho em (thơ, 2003); Trường ca thành Tây Đô (2003).
* Giải thưởng văn học: Giải thơ báo Văn nghệ năm 1969, 1970 bài Làng sơ tán. Giải A tập thơ Muộn mằn – Giải thưởng văn học 5 năm tỉnh Thanh Hoá (1995-1999). Giải C kịch thơ Ngai vàng rung chuyển năm 1990 tỉnh Thanh Hoá.
* Suy nghĩ về nghề văn: Muốn có thơ hay, nhà thơ phải say mê, dấn thân và luôn đổi mới mình. Tự thú sâu sắc đời sống cá nhân mình để đến với đời. Sống hết mình với dân tộc mới khả dĩ đến với nhân loại. Thơ tôi là tôi vậy. Luôn khát vọng tự do và cái Đẹp; luôn hướng về số phận người lao động lương thiện.
 
Nguyễn Khoa Đăng
Các bút danh khác: Phạm Hoàng Xá,
Vương Thân, Tư Gián
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Đăng Khoa. Sinh ngày 1 tháng 9 năm 1941. Quê quán: Hòa Bình, Vũ Thư, Thái Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: phường 16 quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1985.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1961-1971: dạy cấp II tại Thái Bình. Từ 1971-1977: công tác tại Hội Văn học nghệ thuật Thái Bình, học khóa VII trường Bồi dưỡng viết văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1977-1992: công tác tại Hội Văn học nghệ thuật Kiên Giang, từng là Phó Chủ tịch Hội, là “dự thẩm” tại các phiên tòa ở Kiên Giang. Từ 1993: nghỉ hưu, làm phóng viên báo Giáo dục thời đại đến 2003, tạp chí Kiến thức Gia đình 2005.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Khói đốt đồng (tập truyện, 1981); Nước xanh biêng biếc (tập truyện, 1986); Tình yêu một thuở (tập truyện, 1990); Ngõ tre rì rào (tiểu thuyết, 1991); Nghiệt ngã (tiểu thuyết, 1991, 2004); Người bị cáo bên hồ Uyên Ương (tiểu thuyết, 1992, 1995); Cài hoa vào quá khứ (tản văn, 1993, 1996, 2000, 2002); Khóc cười trước vành móng ngựa (tản văn, 1998); Ông “Hòa Bình” (truyện thiếu nhi, 2000); Vẽ lại chân dung Cụ tổ (tập truyện ngắn, 2006); Đội nón cho cây (tập thơ thiếu nhi, 1983, 2004); Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc (kịch bản phim truyện, 1986); Giai điệu xanh (kịch bản phim truyện, 1987).
* Giải thưởng văn học: Giải ba thơ Ty Văn hóa Thái Bình năm 1967. Giải khuyến khích Bộ Nội vụ năm 1971 (truyện ngắn Nắng giữa trưa). Giải khuyến khích Bộ Giáo dục năm 1974 (truyện ngắn Em học trò và người cha ấy). Bằng chứng nhận có thơ phổ nhạc trong bài hát Em đi giữa biển vàng được thiếu nhi cả nước bình chọn là 1 trong 50 bài hát viết cho thiếu nhi hay nhất thế kỷ XX và bằng khen kèm theo của Trung ương Đoàn năm 2000.
* Suy nghĩ về nghề văn: Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ. Muốn ngôn từ phát huy được sức mạnh của nó, theo tôi không nên để cho nó thành một lĩnh vực quá xa lạ với số đông. Không nên coi việc phải làm khác đi mới là sáng tạo.
Còn vấn đề “đi thực tế” của nhà văn, cớ sao phải cứ đi ra khỏi nhà mình, khỏi thôn xóm, huyện xã, thị trấn, thị xã… mình đang ở, thậm chí gắn bó với nó từ thuở lọt lòng, cứ phải đi theo đội ngũ, theo tổ chức… mới gọi là đi thực tế? Tôi tâm đắc với câu “Hãy giẫm nát mảnh đất dưới chân mình, đề tài ở đó”.
 
Trần Bạch Đằng
Các bút danh khác: Nguyễn Trương Thiên Lý, Nguyễn Hiểu Trường, Hưởng Triều, Trần Quang
Họ và tên khai sinh: Trương Gia Triều. Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1926. Quê quán: Sài Gòn. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: 42/65 Nguyễn Minh Hoàng, P12, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1976.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sống và hoạt động chủ yếu ở Sài Gòn. Có được học hành ít nhiều ở trường lớp, chủ yếu là tự học. Đảng viên Cộng sản năm 17 tuổi, tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa. Trong kháng chiến chống Pháp phụ trách công tác tuyên truyền, làm báo Chống xâm lăng của Sài Gòn, rồi Tổng biên tập báo Nhân Dân miền Nam. Sau hiệp định Genève ở lại miền Nam phụ trách công tác Đảng ở thành phố Sài Gòn, công tác tuyên huấn của Trung ương Cục, từng là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Giải phóng
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Bài ca khởi nghĩa (thơ, 1970); Hành trình (trường ca, 1970); Theo sóng Đồng Nai (thơ, 1975); Đất nước lại vào xuân (thơ, 1979); Những cái tên đồng bằng (thơ, 1987); Bác Sáu Rồng (tập truyện, 1975); Chân dung một quản đốc (tiểu thuyết, 1983); Ngày về của ngoại (truyện ký, 1985); Một ngày của Bí thư Tỉnh uỷ (tập truyện, 1985); Ông Hai dứt khoát (tập truyện, 1986); Ván bài lật ngửa (truyện dài nhiều tập, chuyển thể thành kịch bản phim nhiều tập, 1987); Viết về những người đã khuất (truyện ký, 1990); Ông Hai cũ (kịch bản phim, 1986); Dòng sông không quên (kịch bản phim, 1989); Trần Hưng Đạo bình Nguyên (kịch, 1951); Nửa tuần trăng kỳ lạ (kịch, 1984); Tình yêu và lời đáp (kịch, 1985); Tầm nhìn 700 năm trước (tuồng hát, 1987).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Cửu Long (1951) kịch bản Trần Hưng Đạo bình Nguyên. Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965) Con người miền Nam (ký và thơ). Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I năm  2001.
  
Phạm Quang Đẩu
Họ và tên khai sinh: Phạm Quang Đẩu. Sinh ngày 15 tháng 8 năm 1948. Quê quán: Đại Thắng, Vụ Bản, Nam Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Đại tá, trưởng phòng biên tập báo Quân đội nhân dân. Hiện thường trú tại: 328 Bùi Xương Trạch, Thanh Xuân, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1998.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: 1970 tốt nghiệp đại học, kỹ sư cơ khí Viện công nghiệp rừng, Tổng cục Lâm nghiệp. 9-1972 nhập ngũ thuộc E1, quân khu Hữu Ngạn, 3-1973 đến 8-1979: Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam. 9-1979 đến nay: Toà soạn báo Quân đội nhân dân Tổng cục Chính trị.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Bảy ngày tự thú (tiểu thuyết, 1991); Lời tiên tri độc ác (tiểu thuyết, 1993); Ngõ toàn dở hơi (truyện ngắn, 1997); Bí mật rừng chiến địa (truyện ngắn, 1998); Gió lang thang (thơ, 1992); Rào tơ nhện (thơ, 2000); Cơn sốc (tiểu thuyết, 2002); Sét đánh vào thị trấn (tiểu thuyết, 2003).
* Giải thưởng văn học: Giải C truyện ngắn Khoảng rừng trong thành phố do Nxb Thanh Niên và Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng năm 1982. Giải A truyện ngắn Bộ ba ngày nào, do Bộ Đại học THCN và Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng năm 1987.
* Suy nghĩ về nghề văn: Trong vô vàn thứ nghề trên đời này, thì với tôi nghề văn mang lại nhiều niềm hy vọng nhất, cũng hàm chứa nhiều nỗi thất vọng nhất. Bởi thế, trong lúc cùng cực, thất bại vẫn cảm thấy có chút tài để không bẻ bút, còn trong khoảnh khắc hân hoan có thành tựu, vẫn nhận ra cái nhạt nhẽo trên trang viết của mình.
 
 
Trần Thanh Địch
Họ và tên khai sinh: Trần Thanh Địch. Sinh ngày 12 tháng 7 năm 1912. Quê quán: thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Vào Hội năm 1970.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sinh trưởng trong một gia đình quan lại phong kiến nghèo, con vợ hai, cha mất lúc 5 tuổi. Quãng năm 1935 cùng mấy bạn tâm giao như Thúc Tề, Trọng Miên, Thanh Nghị rủ nhau vào Sài Gòn làm báo và chuyên cần đọc sách 10 năm ở thư viện La Grandière. Trong thời kỳ này đã in truyện ngắn Thưa các ngài, tôi, nhà văn sĩ trên Tiểu thuyết thứ bảy và các tập thơ Phấn thời xanh. Cánh giữa trời, Ta trong vạn kiếp v.v… Sau Cách mạng tháng Tám, thành viên đoàn tuyên truyền lưu động Thừa Thiên. Từ năm 1947 đến 1949, làm giáo viên trường trung học Huỳnh Thúc Kháng, Thanh Hoá. Cuối năm 1949 tham gia Đoàn văn công Phân khu Bình Trị Thiên, Thường vụ phân hội Văn nghệ Thừa Thiên. Từ tháng 2-1953 ra Liên khu IV, đoàn viên Đoàn văn công Liên khu IV, tham gia Chi hội văn nghệ Liên khu IV. Năm 1956, sau khi dự trại sáng tác ở Trung ương, được điều về nhà xuất bản Kim Đồng làm biên tập viên, rồi phó phòng biên tập cho đến lúc nghỉ hưu (1974)
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Tổ tâm giao (truyện, 1960); Đưa trâu qua sông (truyện, 1962); Truyện Xô viết Nghệ- Tĩnh (truyện, 1962); Chông Thừa Thiên (truyện, 1963); Hải đảo Cô tô (ký, 1964); Cây trái miền Nam (ký, 1966); Cô giáo vỡ lòng (truyện, 1967); Dũng sĩ 13 tuổi (kịch, 1972); Đôi tai mèo (thơ, 1973); Nhà sinh vật học (truyện, 1982); Săn và bẫy thú (truyện, 1983); Xóm nhà lá (truyện, 1986); Tìm hiểu truyện ngắn (1988); Thay màu cho xác chết (1995); Ông già KUMA (2004), và một số truyện khác cho thiếu nhi.
* Giải thưởng Văn học: Một cần câu (truyện) giải khuyến khích cuộc thi Vì tương lai đất nước – Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và nhà xuất bản Trẻ tổ chức 1993, Giải A Hội đồng văn học thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994
 
 
Phan Cự Đệ
(7.1933 – 9.2007)
Bút danh khác: Thanh Hiên
Họ và tên khai sinh: Phan Cự Đệ. Sinh ngày 20 tháng 7 năm 1933. Quê quán: Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Văn hóa Quốc tế (RICC). Chủ tịch Câu lạc bộ giao lưu Kinh tế -Văn hóa Quốc tế. Hiện thường trú tại: Nhà 33, ngõ 161 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội. Vào Hội năm 1967.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1957-2003: Giảng dạy tại Đại học Tổng hợp, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Giáo sư Viện sĩ. Từ 1983-1989: Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1991 đến nay: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa quốc tế.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Văn học Việt Nam 1930-1945 (tập 2, 1961); Ngô Tất Tố (nghiên cứu, 1962); Phong trào Thơ mới (chuyên luận, 1966); Nguyễn Huy Tưởng (nghiên cứu, viết chung với Hà Minh Đức, 1966); Cuộc sống và tiếng nói nghệ thuật (phê bình, 1971); Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (2 tập, chuyên luận, 1974-1975); Nhà văn Việt Nam (chân dung văn học, viết chung với Hà Minh Đức, 1979-1983); Tác phẩm và chân dung (phê bình, 1984); Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nước ngoài (lý luận, viết chung, – Mátcơva, 1985); Tự lực văn đoàn – con người và văn chương (chuyên luận, 1990); Hàn Mặc Tử – phê bình và tưởng niệm (chuyên luận, 1993); Đổi mới và giao lưu văn hóa (lý luận, 1977); Văn học Việt Nam 1990-1945 (nghiên cứu, chủ biên, 1997); Văn bản và văn cảnh – Giao lưu giữa văn học và văn hóa ở Đông Nam á (nghiên cứu, viết chung – Manila, 1999); Tuyển tập Phan Cự Đệ (4 tập, 2000); Văn học Việt Nam thế kỷ XX – Những vấn đề lịch sử và lý luận (nghiên cứu, chủ biên, 2004); Di sản báo chí Ngô Tất Tố – ý nghĩa lý luận và thực tiễn (chủ biên, 2005); Tuyển tập Phan Cự Đệ (3 tập, 2006); Truyện ngắn Việt Nam (chủ biên, 2007).
* Giải thưởng Văn học: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Làm nghề lý luận phê bình văn học phải biết hút nhụy của trăm hoa nhưng phải có bản lĩnh và chủ kiến riêng của mình. Không nên chạy theo thời thượng và hóa thành một con biến sắc. Cần phải kết hợp chặt chẽ lý luận, phê bình và nghiên cứu văn học. Cần kiên định phương pháp luận nghiên cứu mác xít đồng thời học tập các phương pháp nghiên cứu khoa học tiến bộ khác của phương Tây và phương Đông.
 
Nguyễn Văn Đệ
Bút danh khác: Dương Phương Hà
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Văn Đệ. Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1954. Quê quán: Ngư Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hoá. Dân tộc: Kinh.  Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Hội Văn nghệ Thanh Hoá. Hiện thường trú tại: Khu tập thể Hội Văn nghệ Thanh Hoá. Vào Hội năm 2006.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từng là trung đội phó bộ đội thời chống Mỹ. Hiện là Phó ban văn xuôi Hội Văn nghệ Thanh Hoá.
* Tác phẩm chính đã xuất bản:  Vàng dưới biển xanh (truyện ký, 1990); Người thay thế (tiểu thuyết, 1991); Mắt biển xanh (truyện kí, 2003); Cá heo làm nghệ sĩ (truyện dài, 2004).
* Giải thưởng văn học: Giải ba truyện ngắn Điều thằng Lượng không nói thật do Nxb Giáo dục và Hội Nhà văn Việt Nam trao năm 2001.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi viết văn và chưa dám nghĩ mình lại có thể là nhà văn. Tôi viết từ những cảm xúc có thực bắt nguồn từ cuộc sống của tôi, của bạn… Viết, với tôi, là bao nhiêu cố gắng. Phía trước, và quanh tôi có bao nhiêu chuyện để viết, có yêu có ghét, có cả bất công. Những quyền hành vô cảm làm tôi nhức nhối. Cần phải viết hay hơn để xứng là một nhà văn.
  
Nguyễn Khoa Điềm
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Khoa Điềm. Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943. Quê quán: làng An Cựu, xã Thuỷ An, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 250 Nguyễn Sinh Cung, Huế. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1975.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Học Đại học Sư phạm Hà Nội từ 1961 – 1964. Hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên- Huế từ 1964-1975. Sau 1975 công tác ở Thừa Thiên- Huế; năm 1993 ra công tác ở Bộ Văn hoá- Thông tin, Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương. Bắt đầu sáng tác từ năm 1969. Uỷ viên Ban Thư ký BCH Hội Nhà văn Việt Nam khoá III, Tổng thư ký BCH Hội Nhà văn Việt Nam khoá V. Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tư tưởng văn hoá TƯ, Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thuật TƯ.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: Đất ngoại ô (thơ, 1973); Cửa thép (ký, 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986); Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990).
*  Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 cho các tác phẩm Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Giải thưởng VHNT của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế năm 2000 cho các sáng tác về Huế.
*  Suy nghĩ về nghề văn: Tôi cho rằng có ba yếu tố làm nên phẩm chất văn chương, đó là: lời, hành động và tấm lòng. Lời, đó là lời văn, cách viết. Hành động, đó là ý tưởng văn chương thúc giục người ta hành động. Tấm lòng, đó là tâm hồn tác giả trên từng trang sách. Có văn hay có khát vọng hành động mạnh mẽ nhưng thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì vẫn chưa thể có văn hay.
Cho nên có sách nói khởi thuỷ là lời, có sách nói khởi thủy là hành động, cũng nên có sách nói khởi thuỷ là tấm lòng.
 
 
Hồ Thanh Điền
Họ và tên khai sinh: Hồ Thanh Điền. Sinh ngày 6 tháng 3 năm 1953. Quê quán: xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh An giang. Hiện thường trú tại: phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm  2002.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1975: cán bộ văn hoá thông tin ở Phú Tân, An Giang. 1979: học Tuyên huấn Trung ương. 1980 -1987: Trưởng phòng văn hoá -thông tin. 1987-92: uỷ viên thư ký Hội Văn học Nghệ thuật An Giang. Từ 1992: Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật An Giang.
*  Tác phẩm chính đã xuất bản: ở nơi này anh nhớ (thơ, 1985); Mơ cánh hạc bay (thơ, 1992); Riêng tư tình yêu (thơ, 1988); Bãi hoang (thơ, 1993); Chiêm bao tím (thơ, 2000); Báo đất và những bài viết ngắn (ký, 2002); Dọc miền thơ (2004).
* Giải thưởng văn học: Giải nhì cuộc thi những kỷ niệm dưới mái trường – Báo Kinh tế nông nghiệp năm 1993. Giải nhì cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ nhất năm 1997.
* Suy nghĩ về nghề văn: Văn học không phải là một cuộc chơi. Đến với văn học ngoài khả năng (bẩm sinh và rèn luyện) còn có một phần quan trọng là duyên số. Tôi là người có chút ít may mắn chăng?
 
Tùng Điển
Họ và tên khai sinh: Trần Quang Điển. Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1947. Quê quán:làng Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Giám đốc quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Việt Nam, Chánh văn phòng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Hiện thường trú tại: Quận Thanh Xuân, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1978.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp Đại học, sau đó trải qua các công tác: tham gia quân đội, biên tập viên xuất bản, Phó tổng biên tập tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện nay là Giám đốc quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật Việt Nam, Chánh văn phòng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Uỷ viên  thường trực Đoàn Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam khoá VII.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Những ô cửa màu nâu (tập truyện, 1975); Mạch ngầm (tiểu thuyết, 1976); Những đứa con thành phố (truyện vừa, 1979); Khoảng trống (tiểu thuyết, 1983); Bức ký hoạ (tập truyện, 1985); Ngọn đèn như quả hồng chín (truyện vừa, 1987); Bãi vắng (tập truyện ngắn, 2002).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học của Hội VHNT Hà Nội cho tiểu thuyết Mạch ngầm, 1976. Giải thưởng văn học Công nhân cho tập truyện ngắn Những ô cửa màu nâu, 1976. Giải thưởng văn học Hà Nội 5 năm lần thứ nhất cho tập truyện ngắn Những ô cửa màu nâu, 1980 và Giải C của Hội VHNT Hà Nội cho tiểu thuyết Khoảng trống, 1983.
 
Y Điêng
Bút danh khác: y hinh, amatơ, sông hinh
Họ và tên khai sinh: Y Điêng Kpăhôji. Sinh ngày 15 tháng 2 năm 1928 Quê quán: xã Đức Bình Đông, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Dân tộc: Ê đê. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại khóm 5, thị trấn Hai Riêng, Sông Hinh, Phú Yên. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1977.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tháng 8 năm 1945 là thư ký xã bộ Việt Minh ở Đắc Lắc, sau thoát ly làm cán bộ thanh niên huyện Madơlak. Từ 1948-1952 đạy học, rồi nhập ngũ, làm cán bộ an ninh tỉnh. Năm 1953 học Trường công an Chiêm Hoá (Bộ Công an). 1954 về tiếp quản Hà Nội, công tác tại trường Dân tộc miền Nam, sau đó chuyển qua Đài Tiếng nói Việt Nam. ĐÃ tham gia lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam, làm thư ký riêng cho cụ Ybi Alêô (Phó chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam), Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Đăk Lắc, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ tỉnh Khánh Hoà. Từ 1993 về hưu ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Truyện ngắn và ký: Em chờ bộ đội Ama Hồ (1961), Ông già Krao (1964); Như cánh chim Kway (in chung, 1974); Hơ Giang (1978) Đrai Hlinh đi về phía sáng (1985); Sông Hinh con sông quê hương (2005), Lửa trong tay chúng tôi (2005), Tập thơ: Y Điêng Thơ (2006). Truyện dài: Ba anh em (1996); Chuyện bên bờ sông Hinh (2001). Ngoài ra còn sưu tầm và dịch các sử thi dân tộc Ê đê: Xinh Nhã, Đam Di, Khinh Dú, Mdrăng Dam…
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Ban Dân tộc- Hội Nhà văn Việt Nam (1961)), Giải thưởng Hội Văn nghệ Phú Yên (1975- 2000), Giải thưởng Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (2002). Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Trong quá trình làm nghề sáng tác văn học, tôi luôn nghĩ về con sông, về con người của quê hương tôi. Sông núi đẹp, con người hiền hoà và dũng cảm trong đấu tranh bảo vệ quê hương. Dân tộc mình chính mình biết và chính mình viết. Mình không viết là mình có lỗi với quê hương, sông núi và nguời thân. Nghề viết văn khó quá, tôi viết hiền quá, viết chậm quá, nên phải viết lại nhiều lần, mỗi lần sửa lại như là mới viết vậy.
 
Lê Điệp
Bút danh khác: Hải Phú
Họ và tên khai sinh: Lê Văn Điệp. Sinh ngày 1 tháng 11 năm 1941.  Quê quán: Yên Hưng, Quảng Yên, Quảng Ninh. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.  Hiện thường trú tại: 83 đường số 1, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1977.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Làm công nhân xây dựng ở Hải Phòng. Học viên khóa 3, 4 Trường Bồi dưỡng Nhà văn trẻ. Phóng viên Đài Phát thanh Giải phóng, báo Văn nghệ (bộ phận phía Nam). Biên tập phim Hãng phim Giải phóng.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Vùng đất yêu thương (thơ, 1975); Tín hiệu màu xanh (truyện, 1976); Người lái xe có con chim họa mi (truyện, 1981); Gương mặt kiếm tìm (truyện, 1983). Và một số kịch bản phim truyện: Con gái ông Thứ trưởng, Khoảng vượt, Bóng đen trên mái nhà, Tất cả cùng say, Thầm lặng…
* Giải thưởng văn học: Giải A đề tài Văn học công nhân Hội Nhà văn Việt Nam năm 1971. Giải A kịch bản phim Thầm lặng do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động Thương binh xã hội trao tặng.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi chưa bao giờ tự nhận mình là nhà văn nhà thơ. Với tôi, những danh xưng ấy thiêng liêng lắm. Chúng đòi hỏi vô hạn, trong khi đó khả năng tôi thì có hạn.
 
 
Nguyễn Đăng Điệp
Bút danh khác: Mai Nguyễn
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Đăng Điệp. Sinh ngày 18 tháng 10 năm 1962. Quê quán: Vĩnh Thành, Yên Thành, Nghệ An. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Trưởng phòng văn học Việt Nam đương đại, Viện Văn học. Hiện thường trú tại: số 21, ngõ 43, phố Doãn Kế Thiện, Cầu Giấy, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2005.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từ 1984-1993: giảng viên Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội II. Từ 9-1985 đến 1998 nhập ngũ, là sĩ quan quân đội, giáo viên Trường Văn hoá Quân khu Thủ đô. Từ tháng 7-1993 đến nay công tác tại Viện Văn học. Phó Giáo sư, Tiến sĩ văn học.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Giọng điệu trong thơ trữ tình (chuyên luận); Vọng từ con chữ (tiểu luận, phê bình).
*  Giải thưởng văn học: Tặng thưởng của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội LHVHNT Việt Nam năm 2002. Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2004.
* Suy nghĩ về nghề văn: Văn chương là lĩnh vực luôn luôn đòi hỏi sự sáng tạo. Tầm vóc một nhà văn được đo bằng sự toả sáng của văn bản nghệ thuật do anh ta tạo nên. Đơn giản, lao động của các nhà văn là lao động chữ. Sau chữ là tư tưởng, tình cảm, khát vọng. Tất cả phải được thể hiện qua một giọng điệu nghệ thuật độc đáo. Trong cái nhìn của tôi, giọng điệu là dấu hiệu biểu hiện tài năng.
 
 
Phong Điệp
Họ và tên khai sinh: Phạm Thị Phong Điệp. Sinh ngày 6 tháng 6 năm 1976. Quê quán: Nam Định. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phóng viên, biên tập viên báo Văn nghệ Trẻ. Hiện thường trú tại: P702, CT5 ĐNI Định Công, Hà Nội.  Vào Hội năm 2006.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Cử nhân Luật 1998. Về báo Văn nghệ làm phóng viên, biên tập.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Khi ta hai mươi (tập truyện ngắn, 1996); Ma mèo (tập truyện ngắn, 1997); Người phía bên kia đường (tập truyện ngắn, 2000); Phòng trọ (tập truyện ngắn, 2001); Giấc mơ bay qua cửa sổ (tập truyện ngắn, 2002); Người của ngày hôm qua (tập truyện ngắn, 2003); Lạc chốn thị thành (truyện dài, 2005); Vườn hoang (tập truyện ngắn, 2005); Mạn đàm văn chương thời @ (trao đổi, bình luận văn học, 2007).
* Giải thưởng văn học: Truyện ngắn Ma mèo (giải nhì, không có giải nhất) cuộc thị truyện ngắn trẻ do Văn nghệ Trẻ tổ chức năm 1996-1997; Tập truyện ngắn Người phía bên kia đường, giải tư cuộc thi sáng tác Tuổi 20 lần thứ hai do Nxb Trẻ, báo Tuổi trẻ và Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức năm 2001; Tập truyện Vườn hoang, giải khuyến khích cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ do Nxb Thanh Niên phối hợp với báo Văn nghệ tổ chức, 2004; Truyện dài Lạc chốn thị thành, giải tư cuộc thi sáng tác văn học Tuổi 20 lần thứ 3 năm 2004-2005.
* Suy nghĩ về nghề văn: Viết với tôi – như một nhu cầu tự thân. Và đó là cách thức hữu hiệu để chia sẻ những suy tư của mình với người khác. Trước kia, khi mới “chạm ngõ” văn chương, cứ ngỡ viết rất dễ. Nhưng càng đi vào con đường này, càng thấm một điều: viết chẳng hề đơn giản chút nào. Đó thực sự là một thứ “lao động khổ sai”, nhưng nó cũng mang lại những niềm hạnh phúc vô giá mà không phải ai cũng có được.
 
Xích Điểu
Bút danh khác Trần Minh Tước
(1913-2000)
Họ và tên khai sinh Nguyễn Văn Tước. Sinh ngày 5 tháng 4 năm 1913. Quê quán: xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất năm 2000.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia Cách mạng rất sớm, hoạt động báo chí cách mạng thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1939). Suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp cho đến lúc nghỉ hưu, chuyên tâm vào lĩnh vực sáng tác thơ châm biếm trên các trang báo hàng ngày, hàng tuần ở Hà Nội và các nơi khác. Đồng thời còn viết tiểu phẩm trào phúng, đả kích và kịch bản sân khấu. Từng là Giám đốc Sở báo chí Trung ương, Tổng biên tập báo Thống nhất; Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Cô lái đò sông Thương (truyện dài, 1933); Hy sinh (truyện khoa học viễn tưởng, 1933); Trắng đen (thơ châm  biếm, 1960); Sau mặt nạ nhân vị (1961); Người hay Vật (1962); Cái đuôi con chó (1969); Cướp cũ cướp mới (thơ trào phúng, 1971)
*   “Xích Điểu là một trong những cây bút trào phúng có bản lĩnh. Ông viết nhanh và nhiều. Trong nhiều thể loại khác nhau mà Xích Điểu dùng để đánh địch và phê phán những biểu hiện tiêu cực trong nhân dân, nổi hơn cả vẫn là thể văn tiểu phẩm châm biếm, đả kích.”
(Trích Từ điển văn học tập II,
Nxb Khoa học xã hội, 1984, trang 592)
 
Nguyễn Đình
(1917-1975)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Đình.Sinh năm 1917. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mất năm 1975.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia cách mạng ở miền Nam, sau 1954 tập kết ra Bắc. Sáng tác văn học chuyên về thể loại thơ trào phúng. Nhiều năm làm biên tập tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Đánh mấy vần thơ (thơ, 1959); Những mũi tên nhọn (thơ, 1961), Những tia chớp giật (thơ, 1961), Thơ Nguyễn Đình (1973).
 
 
Cao Huy Đỉnh
(1927-1975)
Họ và tên khai sinh: Cao Huy Đỉnh. Sinh ngày 31 tháng 12 năm 1927. Quê quán: Diễn Thịnh, Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Mất ngày 3 tháng 4 năm 1975.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từng là cán bộ giảng dạy khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1959: về công tác tại Viện Văn học. Năm 1973: là Trưởng ban nghiên cứu Đông Nam á – Uỷ ban KHXH Việt Nam..
* Tác phẩm chính đã xuất bản: R.Tago (dịch, giới thiệu, 1961); Sơkuntơla (dịch, 1962); Tìm hiểu thần thoại ấn Độ (1964); Người anh hùng làng Dóng (1969); Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974); Mahabharata (dịch chung, 1979); Cao Huy Đỉnh – Bộ ba tác phẩm nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh (1998); Cao Huy Đỉnh – Tuyển tập tác phẩm (2004).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I năm 1996.
* Cao Huy Đỉnh là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có những đóng góp vào khoa học nghiên cứu đang hình thành và phát triển. Cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam là một phác thảo sinh động về diện mạo của nền văn hóa dân gian Việt Nam qua từng chặng đường theo hướng lịch sử. Nhà nghiên cứu khẳng định rằng: “Lịch sử Việt Nam có vận động, văn hóa và văn học Việt Nam có vận động thì bản thân văn học dân gian cũng vận động và tham gia vào sự vận động ấy”.
 
 
Trung Trung Đỉnh
Họ và tên khai sinh: Phạm Trung Đỉnh. Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1949. Quê quán: xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phó giám đốc Nxb Hội Nhà văn. Hiện thường trú tại: Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1984.
*  Vài  nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Xuất thân trong gia đình nông dân. Học hết phổ thông đi bộ đội, nhiều năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên thời chống Mỹ cứu nước. Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khoá 1. Từng là biên tập viên văn xuôi Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ngoài viết văn còn làm thơ, viết kịch bản phim.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Thung lũng Đá Hoa (truyện ngắn in chung, 1979); Người trong cuộc (truyện ngắn, 1980); Đêm nguyệt thực (truyện ngắn, 1982); Những người không chịu thiệt thòi (truyện ngắn, 1982); Ngược chiều cái chết (tiểu thuyết, 1989); Tiễn biệt những ngày buồn (tiểu thuyết, 1990); Chuyện tình ngõ lỗ thủng (tiểu thuyết, 1990); Bậc cao thủ (truyện ngắn, 1994); Lạc rừng (tiểu thuyết).
* Giải thưởng văn học: Giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998-2000) với tiểu thuyết Lạc rừng. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi nhập ngũ tháng 4 năm 1968. Vào Nam, tháng 12 cùng năm, đơn vị tôi vào đến Quảng Nam (giáp Lào) thì tôi bị sốt rét vào viện đoàn 559. Ra viện tôi theo đồng chí  tham mưu trưởng tỉnh đội Gia Lai đi vào tiếp và sau đó được biên chế về huyện đội khu (An Khê). Chiến đấu theo kiểu du kích. Bị thương năm 1969-1970. Tôi ở huyện đội này tiếp tục chiến đấu đến năm 1972 thì được điều về trường huấn luyện tân binh của tỉnh. Vì biết nói tiếng Bah Nar nên tôi được đi khắp các buôn làng để tuyển tân binh. Năm 1974 được điều về huyện đội khu X, rồi về ban Tuyên huấn tỉnh đội Gia Lai. ở đây đến hết năm 1977 thì về trại viết Quân khu V. Năm 1979 ra Hà Nội học Trường Viết văn Nguyễn Du. 1982 ra trường, Tổng cục Chính trị phân công về Ban ký sự lịch sử quân đội. Năm 1984 về tạp chí Văn nghệ quân đội làm biên tập viên văn xuôi.
Quá trình ấy tạo nên những trang viết của tôi. Tôi quan niệm sáng tác có ba việc chính: Đi (sống) đọc và viết, trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và viết văn nói riêng, nếu không đem lại cái gì mới thì coi như làm việc vô tích sự. Trong sáng tác tôi luôn tự xác định: Hư cấu, hư cấu và hư cấu.
 
 
Hứa Văn Định
(1935-1995)
Họ và tên khai sinh: Hứa Văn Định. Sinh năm 1935, tại xã Văn Hàn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tốt nghiệp Đại học. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1990). Mất năm 1995 tại Hà Nội.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Nhiều năm công tác tại Hãng phim truyện Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Mắt trẻ thơ (tiểu thuyết); Chân dung người mẹ (truyện); Lửa rừng đêm (tiểu thuyết); Sống trên điểm chết (tiểu thuyết); Tiếng mùa thu (tiểu thuyết). Ngoài ra, còn có một số kịch bản phim truyện được sản xuất và sách truyện viết cho thiếu nhi.
 
 
Lương Định
Các bút danh khác: Vũ Long
Họ và tên khai sinh: Lương Đình Định. Sinh ngày 27 tháng 5 năm 1957. Quê quán: Đồng ý, Bắc Sơn, Lạng Sơn. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Phóng viên báo Lao động- Xã hội thường trú tại TP Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Vào Hội năm 1997.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp Khoa ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1983, làm việc ở Sở Văn hoá – Thông tin Đồng Nai. Từ 1994 đến nay làm việc ở báo Lao động-Xã hội. Sáng tác từ khi học Đại học.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Tương tư (thơ, 1991); Núi và hòn đá lẻ (thơ, 1995); Dòng sông khao khát ( thơ, 2001).
* Giải thưởng văn học: Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1996: tập Núi và hòn đá lẻ. Giải C Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, năm: 2001 tập Dòng sông khao khát.
* Suy nghĩ về nghề văn: Lao động nghệ thuật là công việc nặng nhọc, chỉ có những ai thực sự đam mê mới dám dấn thân theo đuổi một đời. Tôi mê thơ và tập làm thơ từ ngày học cấp III trường huyện, cho tới bây giờ cũng đã hơn nhiều chục năm rồi, và ngọn lửa đam mê đến nay vẫn bùng cháy. Phải chăng thơ là thứ bùa mê, là định mệnh, là nghiệp chướng?
 
Văn Định
Họ và tên khai sinh: Châu Văn Tìa. Sinh ngày 7 tháng 2 năm 1948. Quê quán: Tân Hưng Tây, Cái Nước, Cà Mau. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Hiện thường trú tại: 35A Hồ Học Lãm, An Lạc, Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1985.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia kháng chiến từ năm 15 tuổi. Trong những năm chống Mỹ, hoạt động tại chiến trường Nam bộ. ĐÃ nhiều lần được tặng Huân chương Chiến công và Quyết thắng. Cũng là Hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Trăng tháng chạp (truyện ngắn, in chung, 1978); Chiếc cầu (truyện ngắn, 1981); Người đồng Năn (truyện dài); Câu chuyện chú tu Gai (truyện thiếu nhi, 1982); Về nơi ấy (truyện ngắn, 1983).
* Suy nghĩ về nghề văn: Văn học giống như người bạn thật đời! Có những niềm chua xót, đắng, cay, những niềm vui không sẻ chia với ai được. Bộc bạch nỗi lòng trên trang giấy đó là chuyện sướng nhất ở trên đời đối với tôi…
 
 
Phạm Văn Đoan
Họ và tên khai sinh: Phạm Văn Đoan. Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1953. Quê quán: Tây Đô, Hưng Hà, Thái Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam. Hiện thường trú tại: 86/C1 Lê Hồng Phong, thành phố Vũng Tàu. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2002.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Nhập ngũ tháng 1/1971, chiến đấu ở chiến trường 559. Năm 1985: chuyển công tác về ngành Dầu khí Việt Nam. Làm thơ, viết bút ký văn học về các mảng đề tài: Tình yêu, chiến tranh và dầu khí. Hiện công tác tại tạp chí Công đoàn Dầu khí Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Ngày xưa (thơ, 1997); Ngưỡng vọng (thơ, 2001); Huyền thoại một con đường (kịch bản văn học phim, 1999).
* Suy nghĩ về nghề văn: Năm 1989 trong một lần phỏng vấn một nhà thơ để in báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh, tôi hỏi: Thưa anh! Để trở thành nhà thơ lớn cần phải có phẩm chất gì? Trả lời: Để trở thành nhà thơ chỉ cần tài năng là đủ, để trở thành nhà thơ lớn cần phải có nhân cách nữa. Nhà thơ lớn phải biết dùng tài năng để chi phối nhân cách của mình 
Tôi nghĩ, câu trả lời như một châm ngôn cho người làm thơ vậy.
 
Phan Ngọc Thường Đoan
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Thị Thanh Bình. Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1955. Quê quán: Tân Điền, thành phố Buôn Ma Thuột. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: phóng viên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Vào Hội năm  2002.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Lục bát cho khát vọng (thơ, 1992); Người đàn bà làm thơ và trăng (thơ, 1995); Đếm cát (thơ).
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi nghĩ, thơ là sự chân thật và nhân hậu. Người làm thơ không thể ác.
Tôi cũng nghĩ, người làm thơ mấy ai hạnh phúc! Luôn đối diện với mình và phải đối diện với mình giữa bôn ba cuộc sống.
Cuối cùng, tôi nghĩ, thơ – là cứu cánh cho một thân phận người.
 
 
Bàn Tài Đoàn
Bút danh khác: Đoàn
Họ và tên khai sinh: Bàn Tài Tuyên. Sinh ngày 28 tháng 9 năm 1913. Quê quán: xóm Xí Kênh, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Dân tộc: Dao Tiền. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: thị trấn Nguyên Bình, Cao Bằng. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1957.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tham gia hoạt động Cách mạng (bí mật) từ 1942. Sau 1945: công tác tại phòng tuyên truyền, Cục Chính trị Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ 1951 liên tục hoạt động trên mặt trận văn hóa văn nghệ, từng giữ các chức vụ: Phó Giám đốc sở Văn hóa Thông tin khu tự trị Việt Bắc; Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc, uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Trung ương; uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Muối của Cụ Hồ (thơ, 1960); Có mắt thấy đường đi (thơ, 1962); Xuân về trên núi (thơ, 1963); Một giấc mơ (thơ, 1964); Kể chuyện đời (thơ, 1968); Chùm sấy Cầu (thơ, 1969); Tháng Tám đổi mới (thơ, 1971); Rừng xanh (thơ, 1973); Sáng cả hai miền (thơ, 1975); Gửi đồng bào Dao (thơ, 1979); Nơi ta ở (thơ, 1979); Bước đường tôi đi (thơ, 1985); Tuyển tập thơ Bàn Tài Đoàn (thơ, 1993); Phạm Tìu Lậu (Ba con đường). Ngoài ra còn viết văn xuôi: Đời người Dao (1948); Hồi ký khu Quang Trung (hồi ký, 1994) và tiểu luận: Vấn đề văn nghệ miền núi (1998).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, đợt I, năm 2001.
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân vùng cao, du canh du cư, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sách không được học một chữ. Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theo Cách mạng, được Đảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụ dân tộc. Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn đang bỡ ngỡ. Làm cách mạng đã khó, mà làm thơ ca lại càng khó hơn nữa. Chữ không biết, tiếng phổ thông không biết, có lúc tôi nghĩ không thể làm nổi, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ Cách mạng, Đảng đã giao cho phải cố gắng mà làm và anh em bạn bè cũng động viên, nên tôi cũng cố mầy mò làm. Đến nay, tôi đã có 15 tập sách được các nhà xuất bản in và phát hành. Đó là thành quả một đời tập làm thơ của tôi.
 
Trần Độ
Các bút danh khác: Trần Quốc Vinh, Chín Vinh, Cửu Long
(1923-2002)
Họ và tên khai sinh: Tạ Ngọc Phách. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1923. Quê quán: Tây Giang, Tiền Hải, Thái Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam từ 1957. Mất năm 2002 tại Hà Nội.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Trước Cách mạng tháng Tám tham gia làm báo Cờ Giải phóng, Suối reo, sau Cách mạng làm tờ Quân Giải phóng, 1947-1950 làm Chủ nhiệm báo Vệ Quốc quân. Từng là Chính uỷ Trung đoàn, Sư đoàn, Quân khu, phó Chính uỷ Quân giải phóng miền Nam, uỷ viên Trung ương Đảng (các khoá III, IV, V, VI) Trung tướng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Trưởng ban Văn hoá – Văn nghệ Trung ương, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá – giáo dục Quốc hội (khoá VII, VIII), Phó Chủ tịch Quốc hội, Uỷ viên Hội đồng Nhà nước.
* Tác phẩm chính: Bên sông đón súng (bút ký, hồi ức, 1964, 1982), Anh Bộ đội (tuỳ bút, 1986), Đồng đội (bút ký, truyện ngắn, 1988.
* Suy nghĩ về nghề văn:  Thập kỷ 30, thời kỳ sôi nổi của Âu hoá, của Tự lực Văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy, vì thế tôi quen ngay với những tên tuổi Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư và sau này là Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Nguyên Hồng, bấy giờ tôi đang học trung học ở Hà Nội.
Tôi thoát ly gia đình đi làm cách mạng từ năm 16 tuổi, bị bắt, bị đi đày. Vào bộ đội, làm nhiều công tác… nhưng tôi thích văn chương, hay mơ ước. Tôi không có ý thức rõ rệt là mình sẽ thành nhà văn, mà chỉ thích viết, thích đọc; nhất là thể loại tuỳ bút vì nó không bị gò bó bởi những quy tắc và công thức nhất định, thầy viết của tôi là các anh Như Phong, Trần Mai Ninh, đặc biệt là anh Trường Chinh…
  
Lê Xuân Đố
Họ và tên khai sinh: Lê Xuân Đố. Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1944. Quê quán: Quảng Bình. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Lương. Thường trú tại: 64 Bến Chương Dương, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Vào Hội năm 2000.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp khoa Văn (Hà Nội, 1965-1969). Biên tập thơ, văn Đài Tiếng nói Việt Nam (1969-1976). Biên tập thơ và sân khấu Đài Tiếng nói Việt Nam 2 (thành phố Hồ Chí Minh 1976-1987). Biên tập viên thơ và sân khấu Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh (1987-1/2005).
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Hồn nhiên (thơ, 1988); Ngọn nguồn (thơ, 1997); Chạm mặt (thơ, 1999); Giọng muối (thơ, 2003).
* Suy nghĩ về nghề văn: Thơ thời thượng có xu hướng mạnh thay đổi giới tính: nàng hay chàng thơ hoặc trung tính và cả thay đổi tuổi tác già trẻ… Tiêu chí thơ hay và độc giả rất có thể cũng thay đổi theo. Tôi ủng hộ đổi mới thơ, liệu có phép màu nào xảy ra. Thôi, cứ lặng lẽ, miệt mài tìm kiếm, thể hiện mình, chia sẻ với độc giả.
 
Anh Động
Bút danh khác: Nguyễn Việt
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Việt Tùng. Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1941. Quê quán: Vĩnh Hoà, Vĩnh Thuận, Kiên Giang. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 23 Trương Định, An Bình, Rạch Giá. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1977.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từng là Chủ tịch Hội văn nghệ Kiên Giang. Hiện nay là chuyên viên bậc 7, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Kiên Giang.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Ven rừng tràm (tiểu thuyết, 1978); Bên hàng cù oanh (truyện, 1985); Bóng núi Tô Châu (truyện, 1984); Tiếng trống Sam phô (tiểu thuyết, 1986); Rừng tràm lặng lẽ (tiểu thuyết, 1988); Dòng sông lấp lánh (tiểu thuyết, 1990); Bác Ba Phi (truyện thiếu nhi, 1995).
* Giải thưởng văn học: Giải khuyến khích tuần báo Văn nghệ năm 1978 cho truyện ngắn Bên hàng cù oanh; giải khuyến khích viết về bộ đội Tây Nam Bộ (1973)
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi được sinh ra trong rừng U Minh (…) chưa kịp lớn lên thì tôi đã nếm mùi chiến tranh. Rồi tôi bắt đầu tham gia cuộc chiến tranh cứu nước. Nhiều lần quân thù làm cho tôi đổ máu thể xác lẫn đổ máu tâm hồn trên mảnh đất này. Tuổi thơ của tôi không được học ở một trường cấp I nào. Nhưng được học qua cuốn vần A, B, C và lời ru, lời kể chuyện “đời xưa ” của mẹ. Những năm tham gia cuộc chiến, tôi nâng súng ngắm theo định hướng của mẹ, tôi cầm bút viết theo lời ru của mẹ…
Đến 30/4/19975 tôi mới biết thế nào là chỗ ở của mình có điện và có lộ xe… với vốn chữ không đầy lá mít, tôi phải viết gì đây trong thời bình? Trăn trở 20 năm tôi vẫn không “ngồi dậy” nổi. Chắc có lẽ những ngày còn lại, tôi dành dúm chữ của mình ghi lại những gì mắt thấy tai nghe của thời thơ ấu xung quanh khu rừng U Minh của mình vậy. Mỗi cuộc đời đều có mang số phận khác nhau. Thôi thì đành vậy. Đôi dép mang dưới chân đây nó cũng có mang số nữa là…
 
 
Anh Đức
Họ và tên khai sinh: Bùi Đức ái. Sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935. Quê quán: Bình Hòa, Châu Thành, An Giang. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 105 Nguyễn Văn Thủ, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1957.
*  Vài  nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Từ 1953: là biên tập viên báo Cứu quốc Nam bộ, nhiều năm gắn bó với công việc làm báo, sáng tác văn học. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước là Trưởng ngành Văn, Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ giải phóng, Uỷ viên Ban Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Uỷ viên Đảng đoàn các khóa 2 và 3, Bí thư Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh, Tổng biên tập tạp chí Văn, Đại biểu Quốc hội khóa 7. ĐÃ từng là Uỷ viên Ban Thư ký Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5 và khoá 6, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam khoá VI.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Biển động (truyện, 1952); Lão anh hùng dưới hầm bí mật (truyện, 1956); Một chuyện chép ở bệnh viện (truyện, 1958); Biển xa (truyện, 1960); Bức thư Cà Mau (truyện, 1965); Giấc mơ ông lão vườn chim (truyện 1970); Hòn đất (tiểu thuyết, 1966); Đứa con của đất (tiểu thuyết, 1976); Miền sóng vỗ (tập truyện, 1985)…
* Giải thưởng văn học: Giải Văn nghệ Cửu Long Nam bộ năm 1952. Giải nhất truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ năm 1958. Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu năm 1965. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.
* Suy nghĩ về nghề văn: Khi bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tay trong cuộc chống Pháp, cái mà tôi tự khảo nghiệm trước hết là coi liệu mình có năng khiếu văn chương hay không. Tôi cũng ý thức được sáng tác văn học rất là quý, nhưng cũng rất hệ trọng. Mỗi dòng, mỗi chữ viết ra sẽ có ích hoặc có hại cho người đọc, sẽ gây nên ảnh hưởng tốt hoặc xấu, trong đó bao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa tư tưởng, tình cảm thường xuyên qua cá tính, thẩm mỹ của văn, cấu trúc của truyện, câu và chữ… Hầu như tôi không đưa ngòi bút theo sát một thứ phương pháp nào, một thứ trường phái và chủ nghĩa nào, kể cả phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên tôi trân trọng phương pháp này bởi yếu tố tích cực mà nó chủ trương (…).
Trước nay, sáng tác văn học được đặt trong cái khuôn viên gọi là “kiến trúc thượng tầng”, nhưng cái kiến trúc thượng tầng sáng tác này rất khác với các bộ môn như: chính trị học, luận lý học, triết học; nó đòi hỏi vật liệu cụ thể từ cơ sở: “Mọi điều phải được dựng lên từ mặt bằng cuộc sống”. Tôi luôn tự nhắc mình khi viết là: “hình tượng, hình tượng, hình tượng”; “chi tiết, chi tiết, chi tiết”. Dĩ nhiên điều quan trọng bậc nhất trong đời văn theo tôi là phải cố khắc họa cho được nhân vật, để lại được nhân vật giữa lòng người với độ bền trước thời gian. Nếu làm được việc này, dù ít, dù nhiều cũng chính là làm nên sự tồn tại cho người viết vậy.
 
 
Hà Minh Đức
Họ và tên khai sinh: Hà Minh Đức. Sinh ngày 3 tháng 5 năm 1935. Quê quán: Vĩnh An, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Giảng dạy khoa báo chí, khoa Văn Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Hiện thường trú tại: 97 Yên Lạc, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1967.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: 1954-1957: Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội. Từ 1957: Cán bộ giảng dạy trường Đại học Tổng hợp (nay là Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) Hà Nội. Các chức vụ đã đảm nhiệm: Giáo sư văn học, Chủ nhiệm bộ môn Lý luận Văn học, Phó chủ nhiệm khoa Văn, Chủ nhiệm khoa Báo chí (1990-2000), kiêm nhiệm Viện trưởng Viện Văn học (1995-2002); Tổng biên tập tạp chí Văn học (1995-2003), Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III, Uỷ viên Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc (nghiên cứu, 1962); Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (chuyên luận, 1974); C.Mac, Ph.Anghen, V.I.Lenin và những vấn đề lý luận văn nghệ (nghiên cứu, 1983); Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (chuyên luận, 1994); Một thời đại trong thi ca (nghiên cứu, 1996); Khảo luận văn chương (1999); Sự nghiệp văn học và báo chí Hồ Chí Minh (2000); Hà Minh Đức – tuyển tập (3 tập 3000 trang, 2004). Và 5 tập tiểu luận: Nhà văn và tác phẩm (1979), Thức tiễn cách mạng và sáng tạo thi ca (1979), Thời gian và trang sách (1987) Đi tìm chân lý nghệ thuật (1998), Văn chương, tài năng và phong cách (2001), 4 tập bút ký: Vị giáo sư và ẩn sĩ đường (1996), Ba lần đến nước Mỹ (2000), Tản mạn đầu ô (2002), Đi một ngày đàng (2004), 4 tập thơ: Đi hết một mùa thu (1999), ở giữa ngày đông (2001), Những giọt nghĩ trong đêm (2002), Khoảng trời gió cát bay (2003).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1983-1984 (công trình Nhà văn Việt Nam 2 tập chung với GS. Phan Cự Đệ). Giải B giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1998 (công trình Đi tìm chân lý nghệ thuật). Giải thưởng Nhà nước về  Khoa học xã hội (2000); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001).
* Suy nghĩ về nghề văn: Nghề văn luôn tạo cho con người nhiều mơ ước và cũng nhiều ảo tưởng. Có ý thức làm chủ bản thân và ngòi bút nhưng cũng không dễ tự hiểu mình, đam mê trong niềm vui nhưng nhiều hơn là phải chịu đựng nỗi buồn, luôn muốn hòa mình với cuộc đời song lại phải chịu cô đơn, ham muốn sự vĩnh hằng song khó vượt khỏi hữu hạn. Đến với văn chương phải chăng là duyên phận.
 
Nguyễn Trung Đức
Bút danh khác: Linh Uyên, Lịch Tâm
(1942-2000)
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Trung Đức. Sinh ngày 27 tháng 7 năm 1942. Quê quán: xã Xuân Lũng, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1987). Mất năm 2000 tại Hà Nội.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1965, sau khi tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Tổng Hợp Hà Nội, làm phóng viên thường trú Việt Nam Thông tấn xã tại Quảng Bình, Vĩnh Linh, Nam Lào. Từ 1970-1974: Học tiếng Tây Ban Nha và Văn học Mỹ La tinh tại trường đại học Tổng Hợp La Habana (Cu Ba); Từ 1974 làm việc tại Viện Văn học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn Quốc gia, từng là Trưởng ban Văn học nước ngoài.  Từ năm 1995, là uỷ viên Hội đồng dịch Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: 30 tác phẩm dịch, trong đó đáng chú ý là: Sự tráo trở của phương pháp (tiểu thuyết, 1980); Ngài đại tá chờ thư (tập truyện, 1984); Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết, 1986); Pedro Paranio (tiểu thuyết, 1987); Giờ xấu  (tiểu thuyết); Tướng quân giữa mê hồn trận (1990); Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết, 2 tập, 1996); Dấu máu em trên tuyết (tập truyện, 1997);  Octavio Paz (thơ văn và tiểu luận, 1998); Vầng trăng và cầu vồng (tập truyện, 2001); 12 truyện phiêu dạt (truyện ngắn, 1996); Từ chân trời một phía (tiểu luận, phê bình, 2003)…
* Giải thưởng văn học: Tặng thưởng Văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam 1996 cho tác phẩm dịch Tình yêu thời thổ tả. Tặng thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm  2004 cho tập Từ chân trời một phía.
* Suy nghĩ về nghề văn: Nhiệm vụ của nhà văn là viết cho hay, thật hay. Nhiệm vụ của người dịch văn học là phải tìm cho được tác phẩm hay và dịch cho tốt, nghĩa là đảm bảo ba yêu cầu Tín, Đạt, Nhã, trong đó Tín là then chốt.
 
Phạm Đức
Họ và tên khai sinh: Phạm Văn Đức. Sinh ngày 17 tháng 4 năm 1945. Quê quán: Liên Hồng, Tứ Lộc, Hải Dương. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Hiện thường trú tại: 13, ngõ 21 phố Sơn Tây, phường Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1988.
*  Vài nét về quá trình học tập, công tác,
sáng tác: Tham bộ đội thông tin làm chuyên môn,
rồi làm báo Thông tin từ 1963 đến 1975. Từ 1975 đến
2005, là biên tập rồi Phó giám đốc phụ trách nội dung Nxb Thanh niên. Từ 2006 là biên tập viên tạp chí Thơ Hội Nhà văn Việt Nam. ĐÃ học qua: Tuyên huấn Trung ương, trường Viết Văn Nguyễn Du, trường Đoàn cao cấp Liên Xô (1984-1985). lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam (khoá 3, 1968-1969).
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Thơ: Có một khoảng đời (1984); Đơn phương (thơ, 1990); Đàn đá (1996); Báo động (1998); Giữa hai ta (2001); Quầng mắt (thơ, 2003); Thơ với tuổi thơ (2004); Giật mình (thơ, 2005); 81 bài thơ tình chọn lọc (2006); Mưa rừng và võng đôi (2006).  Văn: Tôi và Dim, những tháng ngày (tiểu thuyết, 1983); Cuộc bỏ trốn của những con dấu (truyện thiếu nhi, 1988); Yêu để sống (tiểu thuyết, 1993); Hạt bông gạo nhảy dù (thơ thiếu nhi, 1993); Hương đồng cỏ nội (tản văn, 1994, 1997, 2000); Một lời với một người (tập truyện ngắn, 1997); Muôn mặt tình yêu (tản văn, 1997, 2000, 2002); Người ném bóng một mình (truyện thiếu nhi, 2005), Chuyện vườn (truyện thiếu nhi).
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng chính thức văn xuôi của tuần báo Văn nghệ (1969) với truyện ngắn Tiếng biển; Giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994 với tạp văn Hương đồng cỏ nội; Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2005 của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam với tập Giật mình.
* Suy nghĩ về nghề văn: Cha mẹ và tám chị em tôi đều ham đọc sách, nhưng chỉ tôi say mê viết từ hồi bé. Thời ấy, sách báo hiếm và thiếu các Hội bút, chỉ cùi cụi viết, gửi và mong mỏi… Tôi viết khá hơn, khi vào bộ đội Thông tin. Mở đầu là bài thơ ánh đèn, in trên Văn nghệ quân đội năm 1964.
Quả là cái nôi ấy và thời chống Mỹ hào hùng đã nuôi dưỡng, khuyến khích nhiều ngòi bút. Tôi tự hào về thời ấy không chỉ là tư cách chiến sĩ mà còn là tư cách nhà thơ với các bài tôi vẫn xếp vào loại hay nhất của mình: Bài thơ xua khói, Hơi ấm bàn tay, Dấu chân… Sau này, trên sách báo và trong các tập thơ Có một khoảng đời, Đơn phương, Đàn đá… nhiều bạn đọc tìm thấy trong thơ tôi những tình cảm chân thật, sâu lắng của lứa tuổi yêu đương. Nhiều bài thơ được đọc, chép, chuyền tay nhau như: Thì anh lại sợ, Đơn phương, Tình ca, Ví dầu, Như hồ than thở, Cơn gió… Điều này làm tôi hào hứng và hiểu ra mỗi trang viết phải là máu thịt đời mình mới mong được bạn đọc yêu mến.
 
 
Lê Xuân Đức
Bút danh khác: Hoàng Lê, Chu Mã Giang
Họ và tên khai sinh: Lê Xuân Đức. Sinh ngày 12 tháng 8 năm 1939. Quê quán: Hoà Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hoá. Dân tộc: Kinh. Hiện thường trú tại: P511 tập thể Quốc hội, 957 đường Hồng Hà, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 2006.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Từng là giáo viên PTTH, cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Vinh, Cao đẳng Sư phạm Thanh Hoá, Phó chủ tịch thường trực Hội Văn nghệ Thanh Hoá, đại biểu Quốc hội khoá VIII, Vụ trưởng Vụ Văn hoá giáo dục… Văn phòng Quốc hội.
* Tác phẩm chính đã xuất bản:   Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh (PBVH, 2002, 2003, 2006); Nay ở trong thơ (PBVH, 2005); Đọc thơ Bác Hồ (2005); Lời bình 79 bài thơ Bác Hồ (2006); Thi hứng thêm nồng (2006).
* Suy nghĩ về nghề văn: Tôi nghiệm ra ở mình điều này, dù làm công việc gì, nhưng cái mà thường trực trong mình như một sự đam mê, đó là tình yêu văn học- văn chương.
Văn học là con người, là cuộc sống, là tư tưởng, là tình cảm, là sợi tơ lòng đang rung… Văn học bắt đầu từ cái rất cụ thể, từ sự xúc động và rung động, từ đáy sâu của tâm hồn chính vì thế nó khơi gợi, lôi cuốn, quyến rũ anh, cuốn rũ tôi, quyến rũ mọi nguời, luôn luôn mở cửa chào mời, khiến người ta say mê từ lúc nào không biết nữa.
… Nhà văn phải là người có bản lĩnh và con đường đi của riêng mình.
 
 
Xuân Đức
Họ và tên khai sinh: Nguyễn Xuân Đức. Sinh ngày 4 tháng 01 năm 1947. Quê quán: xã Vĩnh Hoà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đơn vị hiện đang công tác: Giám dốc Sở Văn hoá -Thông tin Quảng Trị. Hiện thường trú tại: Thị xã Đông Hà, Quảng Trị. Đảng viên Đảng CSVN. Vào Hội năm 1982.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Xuất thân trong gia đình nông dân. Học xong phổ thông trung học vào bộ đội, chiến đấu ở vùng sâu Quảng Trị. Năm 1976 được điều về trại sáng tác của TCCT, sau đó đi học Trường Viết văn Nguyễn Du (khoá I). Tốt nghiệp, về Đoàn kịch nói quân đội, trước khi chuyển ngành là Trung tá. Nhiều năm là Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Sở Văn hoá -Thông tin, Tổng thư ký Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Cửa gió (tiểu thuyết, 1980); Người không mang họ (tiểu thuyết, 1984); Hồ sơ một con người (tiểu thuyết, 1985); Những mảng làng (tiểu thuyết, 1987); Tượng đồng đen một chân (tiểu thuyết, 1987); Bến đò xưa lặng lẽ (tiểu thuyết, 2005); và nhiều kịch bản sân khấu, trong đó có Tổ quốc, Chứng chỉ thời gian, Đám cưới li biệt, ám ảnh, Cái chết chẳng dễ dàng gì, Đợi đến bao giờ, Chuyện dài thế kỷ…
* Giải thưởng văn học: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1982 cho cuốn Cửa gió). Giải thưởng Bộ Nội vụ cho cuốn Người không mang họ. Hai lần Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng (1990, 1995). Giải thưởng Hội Nghệ sĩ Sân khấu (1995) cho vở Cuộc chơi. Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập kịch Chứng chỉ thời gian. Giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam cho cuốn Bến đò xưa lặng lẽ. Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
* Suy nghĩ về nghề văn: Bắt đầu là sự đam mê, rồi sợ. Tôi là người yếu đuối về hoài bão, nghĩa là không có một hoài bão ghê gớm gì về tương lai văn học của mình. Tôi rất sợ sự ồn ào… Tôi rất tâm đắc mấy câu thơ này của bạn tôi – một nhà thơ:
“Con tàu phải tự mình
Trước hết để khỏi chìm, sau đó mới bơi đi
Tôi căm ghét những gì không thực chất
Đám bọt muốn khoe mình tìm cách nổi lên trên…”
 
 
Yên Đức

(1942-2003)
Họ và tên khai sinh: Trịnh Đức Dực. Sinh ngày 17 tháng 10 năm 1942. Quê quán: thôn Chí Linh, xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đảng viên Đảng CSVN. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1996). Mất năm 2003 tại Hà Nội.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Sau tốt nghiệp phổ thông trung học năm 1959, công tác tại Ngân hàng Nhà nước. Từ năm 1962: chuyển về Chi nhánh Ngân hàng Uông Bí. Từng là Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Uông Bí, đại biểu Hội đồng Nhân dân thị xã Uông Bí khóa 13 (1986-1989), Phó Ban quản lý dự án Bảo tàng Văn học Việt Nam.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Lửa hàn ngõ thợ (thơ, in chung với Đào Ngọc Vĩnh, 1972); Nguồn sáng (thơ, in chung với Thạch Quỳ, Anh Chi, 1979); Hoa mùa thu (thơ, 1993).
* Giải thưởng văn học: Giải khuyến khích cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ năm 1969 (bài thơ Thung lũng than). Giải thưởng chính thức về thơ Tổng công đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam (chùm thơ Lửa hàn). Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long năm 1980, Uỷ ban nhân dân Quảng Ninh (tập thơ Lửa hàn). Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long năm 1996, Uỷ ban nhân dân Quảng Ninh (tập thơ Hoa mùa thu).
 
Trinh Đường

Bút danh khác: Phú Xuân, La Vân, Duy Mỹ
(1919-2001)

Họ và tên khai sinh: Trương Đình. Sinh ngày 1 tháng 1 năm 1919, tại thôn Đại Thắng, xã Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Mất ngày 28 tháng 9 năm 2001 tại Hà Nội.
* Vài nét về quá trình học tập, công tác, sáng tác: Năm 1946: tham gia Thư ký đoàn văn hóa kháng chiến Quảng Nam – Đà Nẵng. Từ 1947 đến 1954: làm phân hội trưởng Phân Hội Văn nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng kiêm chấp ủy viên Chi Hội Văn nghệ khu V. Năm 1954: tập kết ra Bắc làm biên tập viên thơ báo Văn nghệ rồi biên tập viên thơ Nhà xuất bản Văn học.
* Tác phẩm chính đã xuất bản: Về thơ: Hoa, Gạo, Hạt giống, Thủy triều, Bạch Đằng giang khúc, Giao mùa, Phượng hoàng con, Quán trọ, Hội hóa trang, Cà Mau, Hành trình. Về văn: Làm cầu La Kham (ký, 1957); Ngày và đêm một lứa đôi (truyện ngắn, 1982). Phê bình, lý luận biên soạn: Ngày hội thơ, Những gương mặt thơ mới, Thơ với tuổi học trò, Một thế kỷ thơ Việt, Thơ thế kỷ XX (tinh tuyển và bình giá).