Công trường đá thơ Hoàng Trần Cương

 

 

      

     Đập cổ kính ra tìm bóng dáng
     Xếp tàn y lại để dành hơi
Tự Đức – Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

Thơ Phạm Tiến Duật có cảm giác như nhặt được: Cái vết thương xoàng mà đi viện/ Hàng còn chờ đó tiếng xe reo. Thơ Hữu Thỉnh không mang khó đi cùng, khi đến người đọc thì đã ngon lành, bất ngờ mà tự nhiên: Ra sông vớt đám củi rều/ Cha tôi mang về những khúc ca trôi nổi. Thanh Thảo cắt bỏ những câu chữ trung gian như cô vợ khó tính lọc thịt bạc nhạc, trong khi Nguyễn Duy rất cần những chữ bạc nhạc để biến thành món nem cuốn của riêng mình có tên là bụi ca. Hoàng Trần Cương xuất hiện sau cùng của một thời đại thi ca, thời của những khi yếu tố cấu thành phong cách và khiến nó được cộng hưởng nhạc cảm đã đâu vào đấy cả, Cương bèn như thế nào thì cứ thế mà đến. Và Cương đã đến từ công trường đá của mình, nơi ông vật vã nhễ nhại trong tiếng khô khấc trầm đục hoặc choang choang với câu chữ. Hình dung này trước hết do cách tạo nên nhạc cảm lạ tai, xin đọc một bài khá tiêu biểu, bài Miền Trung:
Mảnh đất quê anh một thời ngún lửa
Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa
Chuốt ruột mình thành dải lụa sông Lam

Những chữ có dấu rất trái ngược nhau, rất khó đọc mà tôi viết đậm lên dường như là các điều cấm kỵ trong giáo khoa thi?  Sau nữa, do bởi thơ Cương có khá nhiều hình tượng vạm vỡ và lam lũ:
Miền Trung
Tấm lưng trần đen sạm
Những đốt sống Trường Sơn lởm chởm dăng màn
Thoáng bóng giặc núi bửa thành máng súng
Những đứa con văng như mảnh đạn
Thương mẹ một mình trời sinh đá mồ côi
 Những chữ của câu thơ Hoàng Trần Cương rất giống mảnh đá mới vỡ văng ra không theo một trật tự nào, sắc nhọn; nhưng cũng có khi lấp lánh:
Miền Trung
Câu ví dặm nằm nghiêng
Trên nắng và dưới cát
Đến câu hát cũng hai lần sàng lại
Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm
và cuối cùng, khi Cương tự khác nhịp mình đi, chữ được chau chuốt và đánh bóng, thì thơ cũng lập tức rời xa:
ánh mắt buồn rượi nắng
Những buổi chiều ta lắng vào nhau
Yếu tố cuối cùng chính là một khẳng định phong cách thơ “công trường đá”của Hoàng Trần Cương, một phong cách đậm đặc tới mức chỉ khẽ khác đã thành giả mượn như cái cà vạt choé màu.
Nhưng cái gì làm nên phong cách ấy?
Hoàng Trần Cương là người Nghệ, mảnh đất nghèo khó, trong cái thời khốn khó nhất là chiến tranh (ông sinh năm 1948). Hãy nghe ông giáo đầu trong trường ca Trầm tích: Bữa tôi chào đời trời rạch chớp xanh/ Nước sông Lam đã trèo vào cổng/ Treo vội con lên chạn/ Mẹ xắn quần đi giằng lại cái sanh đồng sứt quai...Lại là nơi những người đàn ông (miền Trung) thường đi vắng; trong môi trường sống của cậu bé Cương không có niêm luật thơ, ngay cả câu ví dặm khó nhọc Cương vẫn chưa thấm đủ vào mình thì đã thành người lớn; cậu cứ: Ba tuổi đầu tôi cởi trần trùng trục/ Vác gươm cọng chuối múa khắp làng(…) Thằng con trai ngỗ nghịch/ Cứ hong hóng chờ trăng lên là vọt ra đường mà lớn lên. Lớn lên, Cương vẫn không được chuẩn bị để trở thành nhà thơ, anh học nghề kế toán, từng làm kế toán trưởng báo Nông nghiệp Việt Nam. Đó là một nghề đòi người ta bất thân bất sơ. Đây là chân dung một kế toán:
Anh có phải là nắng đâu
Sao tính khí lại thất thường như nắng
Mặt gầy choắt mà đồng nghiệp gọi anh là “thằng mặt nặng”
Máy tính dính tay lẩm bẩm suốt ngày

Làm kế toán, lại làm vào thời Khuôn mặt nào cũng ngơ ngác đăm chiêu/ Mấy đồng lương vá làm sao kín tháng và nghề nghiệp đã ám đến mức “lẩm bẩm suốt ngày”là chí nguy rồi. Bài Bút ký thơ của một kế toán trưởng có thể giúp cắt nghĩa về tính cách tác giả để từ đó nhận diện phong cách thơ Hoàng Trần Cương. Cương rất ít khi nói nhiều, giọng nói bộc trực, đôi khi thô lỗ; ông thường diễn đạt giật cục và vụng về trước cử toạ. Chỉ khi nào thật say, khi câu chuyện giữa những người thật thân đã đến độ tâm giao thì ông mới dòn chuyện theo cách của mình, tức là giật cục và lớn giọng hơn. Giữa các nhà thơ tán gái như điên nói trạng như thần, Cương gồ ghề và im lìm như đá. Rất may, “thơ là tiếng nói đồng tình, đồng chí” nên khi nào Cương say và thật, thơ mới hoặc len lỏi hoặc bửa đá mà lên; những câu thơ còn dính đầy bụi và nhiều khi xây xước như còn vết cứa của đá: Cạnh đá sắc còn hằn nguyên vết chém/ Dấu tích tháng năm buồn/ Nghèo khó cắn xé nhau. Chính ông cũng phải tự vấn: Vì sao con không có những dòng thơ nằm ngay ngắn trên cùng mặt phẳng. Một câu hỏi vọt ra rất vô cớ, nằm nhức nhối và trớ trêu như phiến đá mồ côi giữa cánh đồng. Phiến đá lại như một ẩn ức bật ra giữa cơn say cùng bè bạn, hình tượng đá mồ côi rải rác khứp trường ca…
Còn tôi thì nhẩm tính: Trong hơn 2500 câu thơ của trường ca Trầm tích chỉ có vài ba lần nhắc đến lời ru, của bà và của mẹ: Đói khát chen nhau gầy rạc lời ru. Chỉ có một lần Những lời ru ngọt như đường ngậm, thì lại Lọc từ năm tháng cay chua. Hiếm hoi lời ru, một thứ vốn rất sẵn ở dân tộc này, như khí trời gió biển, trong khi lại có hẳn một chương kể chuyện ngụ ngôn như một nhát dao khắc trên hoành phi của ngôi đền hiếu học, chương Cá gỗ; Trầm tích có thể xem như bức chân dung bằng thơ của đứa con xứ Nghệ dâng tặng mẹ mình, quê hương mình hay có thể mở rộng ra hết cả dải miền Trung.
Năm 1990 tôi về báo NNVN, tháng lương đầu là do Cương ký trả. Ngày ngày chạm mặt nhau nhưng có khi cả tháng trời không nói với nhau một câu. Khi nào nổi hứng, Cương mời tôi ra quán cà phê, mới đọc cho nghe mấy câu thơ, đôi khi là cả bài. Người nghe có nhuận nghe, “phong bì” là cái giọng thế này: “Cầm về cho nó nuôi con.”Tôi có đặc biệt thích câu thơ thế sự: Đón hụt cơn mưa thừa ra đàn mối trong bài Phác hoạ làng quê và lưu ý nó với Cương, người của thế hệ chúng tôi, làm thơ khi những tráng ca một chiều không mấy ai còn đọc. (Năm ngoái, Cương cho in trường ca Đỉnh Vua trên tạp chí Nhà văn, tôi mừng là dự cảm của mình đúng, đến dây, Hoàng Trần Cương đã nhuần nhị, đã có thể hát lên thế sự của thời đại; một sự khác với đông đảo các nhà thơ trường ca.) Trong những ngày mới quen nhau ấy, sau này tôi ráp nối lại, mới biết đó là thời điểm Cương viết Trầm tích. Như thế, suốt mấy năm Cương vẫn hiện diện giữa cuộc đời, nhưng con người thật của Cương lại đang khai quật trầm tích; ông như phu đá đỏ khó nhọc đãi đất đá để mỗi ngày lấy dăm ba câu thơ – dăm ba bụi rubi ky cóp và Trầm tích ra đời. Nếu hình dung ấy đúng, thì nó sẽ cắt nghĩa vì sao Trầm tích không thể đọc liền mạch; thậm chí nhiều chương có thể đứng riêng thành bài, chỉ được gá tạm vào cấu trúc chung.
Vâng, đọc Trầm tích có cái thú được nhẩn nha theo dõi một cậu bé có cá tính mạnh đã vươn qua những khe đá khắc nghiệt của cái nghèo mà lớn lên; và khi đã thành được người, anh ta bỗng thức ngộ ra rằng cái nghèo khó của nơi chôn rau cắt rốn té ra lại là vùng trầm tích, với thời gian, những vại nhút, chai mắm bị gió Lào làm bốc hơi hết, những trái táo ương không đủ dinh dưỡng để chín bòn được trong vườn, những cơn lũ ngỗ ngược…đã thành rubi, thành gia bảo: 
Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh
Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh
(…)Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát
Tảng cháy cạy đi rồi
Còn hằn vết móng tay
Cày lên
Sưng cả đáy nồi
Cái đói khổ của miền Trung thì đã thành chuyện bình thường, nhưng buồn hơn là ngay cả khi Hy vọng đổi mùa, cũng chỉ là:
Cuối vườn tiếng lá chuối khô xô nhau như xáo ốc
Hoa bèo khô rốc còn sởn da gà run cả bờ ao

Tại một nơi nước dữ, đất kiệt, nắng “như màu cá rán” còn gió thì khỏi nói, dường như chỉ có một thứ duy nhất của miền Trung khả dĩ mềm mượt, đó là tình thương? Tôi nói “dường như” vì đến mùi hương cũng chỉ “rón rén”mơ hồ:
Đợi chừng nửa đêm khi bà tỉnh giấc
Mây buông mảnh trăng liềm
ánh trăng nâng bóng cau non đặt mớm vào mép võng
Bỏm bẻm miếng trầu
Rón rén thức mùi hương
Cùng là hình tượng nghệ thuật khắc hoạ cái nghèo nhưng bà thì đó là cái nghèo kết tủa, ổn định như thế; trong khi mẹ thì còn phải vật lộn với đói nghèo: Cái rá phải dày/ Để giữ lại dù chỉ vài mụn cám(…)Cái rễ khoai lang thành khúc ruột mềm/ Chưa hề đứt bởi vì chỉ có thế mới cứu được (Nên) bầy con không ngửa tay ăn mày ngoài chợ. Câu thơ hay buông rơi tiếng thở dài không ngừng rơi như thế thật nhiều trong Trầm tích, nơi bà mẹ tất bật vì con đến mức đẻ cũng không được dọn chỗ: Mẹ đẻ rơi tôi bên cối giã gạo/ Tôi lấm láp đáp mình vào đất. Nhưng chưa hết, những câu thơ Cả đời mẹ như toàn nuôi con mọn (…) Sinh con/ Mẹ là hạt thóc đã mọc mạ rồi/ Vẫn sưởi ấm mùa đông bằng khoảng trống của hai vỏ trấu/ Cái nón mê mẹ đội nửa đời người/ Khi chóp thủng lại trùm lên vại nhút  mới thật ám ảnh, nó mở ra hãi hùng những câu thơ như khắc vào tâm can, lập nên một bảo tàng số phận:
Mấy khuôn mặt âm thầm quây quanh chiếc nồi rang
Lặng lẽ đè lên nhau
Những vết đũa dọc ngang
Quệt vào lòng nồi rang mẹ chưng khô nước mắm
Nước mắm kho vừa khét vừa đắng
Đứa em út con cứ khen ngon vội vội vàng vàng đưa lên miệng mút
Mắt tròn đen len lén nhìn xuống đất
Canh chừng mưa ập vào lôi mất cái nồi rang
và một bảo tàng dân tộc học:
Làng nghèo
Sao còn lắm rác
Để đất đai sinh rặt chổi cùn
Những đồi chổi rành
Những truông chổi đót
Quét vẹt trời miền Trung
Đến đây nẩy sinh một vấn đề: cái nghèo nếu rồi sẽ đi vào trầm tích, thành thơ, thành đá quý thì phải chăng nó là thứ cần ca ngợi? còn trên thực tế, cái nghèo thường chỉ sinh ra “cắn xé nhau” như chính thơ Cương đã nói? Đây là một nghịch lý thú vị.
Có nhiều cách biểu hiện của sự trưởng thành : Con vua thì (khi lớn) lại làm vua, có hàn sĩ nọ nhờ ăn cá gỗ mà thành trạng nguyên, tể tướng, thành cán bộ, nhà xã hội học giấu tên có một nhận xét khiến có thể tin ngay, rằng Thanh Hoá chọn xuất khẩu lao động đánh giầy còn Nghệ An thì chọn xuất khẩu trí thức v.v…Nhưng tôi cho rằng dấu hiệu trưởng thành rõ nhất là thái độ ứng xử với dĩ vãng hàn vi. Một lão nông vẫn còn than nghèo cực, một ông đồ giáo huấn con đói cho sạch rách cho thơm, một ông quan trọng phú khinh bần thì cấp độ trưởng thành không rõ rệt lắm. Ngàn năm nay vẫn thế. Nhưng cấp độ của trưởng thành từ nghèo đói trở nên giàu có, nhìn sự bần hàn xưa như một biết ơn đối với thử thách của số phận thì đó là cấp độ trưởng thành lý tưởng. Hoàng Trần Cương có được cấp độ đó. Mặt khác, con người thi sĩ vẫn ẩn náu trong Cương như một trầm tích dưới quá trình trui rèn của nghị lực trỗi vượt; để chính nó trở thành trầm tích ở cấp sâu dày hơn. Nhưng hãy nghe chính thơ Cương nói về điều đó:
 Con không tin mảnh đất này rụi rọ
Ai ra đi cũng chẳng muốn quay về
Có một mảnh đời con trong đống rác
Xin mẹ cho con bới tìm(…)
Mẹ ơi
Đá đỏ kết tinh từ máu người lương thiện
Trầm uất gì bẹp dí dưới vực sâu
Vẫn con những chương, những đoạn và câu thơ dễ dãi ngổn ngang khắp trường ca như thêm một nét nhấn cho cảm giác “công trường đá” càng rõ ở thơ Hoàng Trần Cương. Sang trọng khi nói về đói nghèo chỉ cách anh nông dân mặc comple Tàu thắt ca vát loè loẹt trong gang tấc. Rất may là ở cái công trường đá ấy, Cương đã có được nhiều viên đá quý và thật nhiều vẩy vàng. Với những trường đoạn ấy, quá trình trỗi vượt của nhân vật xưng con, xưng tôi trong trường ca đã xứng đáng đại diện cho một thế hệ Thanh – Nghệ – Tĩnh, cho miền Trung; nó cũng tiêu biểu cho một độ trưởng thành rất cần cho hôm nay – những người mai sau khi nhớ về mảnh đời hàn vi như một dư vị mặn cho cuộc sống giàu có của mình và nói về nó với một độ lượng, một hàm ơn…Và, nếu được như thế, thì đến lượt mình, Trầm tích đã là một thứ men chuyển hoá thời gian thành đá quý, thành một tuyên ngôn sống, thành thơ…

Vẫn con những chương, những đoạn và câu thơ dễ dãi ngổn ngang khắp trường ca như thêm một nét nhấn cho cảm giác “công trường đá” càng rõ ở thơ Hoàng Trần Cương. Sang trọng khi nói về đói nghèo chỉ cách anh nông dân mặc comple Tàu thắt ca vát loè loẹt trong gang tấc. Rất may là ở cái công trường đá ấy, Cương đã có được nhiều viên đá quý và thật nhiều vẩy vàng. Với những trường đoạn ấy, quá trình trỗi vượt của nhân vật xưng con, xưng tôi trong trường ca đã xứng đáng đại diện cho một thế hệ Thanh – Nghệ – Tĩnh, cho miền Trung; nó cũng tiêu biểu cho một độ trưởng thành rất cần cho hôm nay – những người mai sau khi nhớ về mảnh đời hàn vi như một dư vị mặn cho cuộc sống giàu có của mình và nói về nó với một độ lượng, một hàm ơn…Và, nếu được như thế, thì đến lượt mình, Trầm tích đã là một thứ men chuyển hoá thời gian thành đá quý, thành một tuyên ngôn sống, thành thơ…